Chương 79: Trang cuối của cuốn sổ
Chương 79: Trang cuối của cuốn sổ
Cái giấy chứng nhận thì nhận ở phòng đất huyện, và cái hôm ấy là một cái hôm thứ ba, và trời lạnh.
Họ đi từ năm giờ. Cha nàng mặc cái áo the, và ông ấy mang theo cái cặp da, và trong cặp có bốn tờ giấy: cái giấy biên nhận, cái chứng minh thư, cái sổ hộ khẩu, và cái tờ giấy có cái dấu son của bà Tư.
Bà Tư mất rồi, nhưng cái dấu ấy vẫn ở trên giấy, và nó vẫn khuyết một bên.
「Cha ạ.」 Nàng nói, ở trên cái xe đò. 「Cái tờ ấy là tờ cuối cùng.」
「Ừ.」
「Mà nó đến muộn mười hai năm.」
Cha nàng nhìn ra cửa xe, và ông ấy nói:
「Muộn còn hơn không. Mà con ạ, cái gì đến muộn thì người ta giữ nó kỹ hơn.」
Ở phòng đất, cái bàn thứ tư vẫn có cô gái ấy, và cô ấy vẫn đeo kính, và cái chồng hồ sơ trước mặt cô ấy vẫn cao bằng gang tay.
Cô ấy nhận cái cặp, và cô ấy tra cái số hồ sơ, và cô ấy mở cái sổ, và cô ấy nói:
「Dạ, hồ sơ của gia đình mình xong rồi. Có quyết định công nhận. Mời ông vào bàn số hai để nhận giấy và ký.」
Cha nàng đứng dậy, và ông ấy đi, và ông ấy đi chậm, và nàng đi sau ông ấy, và nàng thấy cái lưng ông ấy thẳng.
Ở bàn số hai có một người đàn ông, và ông ấy mở cái ngăn kéo, và ông ấy lấy ra một cái giấy, và cái giấy ấy có bìa đỏ, và ở trên bìa có cái quốc huy.
「Ông ký ở đây, ở đây, và ở đây.」 Người ấy nói. 「Ký ba chỗ. Rồi ghi rõ họ tên, ngày tháng.」
Cha nàng cầm bút, và ông ấy ký, và cái tay ông ấy run, và nàng thấy ông ấy phải đặt cái cổ tay xuống bàn để ký cho đúng.
Rồi người ấy đưa cái giấy cho ông ấy, và ông ấy cầm, và ông ấy mở ra, và ông ấy nhìn.
Nàng đứng bên cạnh, và nàng nhìn theo.
Ở trong cái giấy ấy có một cái bản đồ nhỏ, và ở trên bản đồ có một cái thửa hình chữ nhật, và ở dưới có những dòng chữ in, và ở chỗ người sử dụng đất có một cái tên: Lâm Đức Hậu.
Và ở chỗ diện tích có một con số: tám trăm năm mươi mét vuông.
「Tám trăm năm mươi.」 Cha nàng đọc. 「Hồi trước là một nghìn hai trăm bốn chục.」
「Dạ.」 Người ấy nói. 「Vì nhà nước thu hồi ba trăm chín chục mét vuông làm đường. Cái phần còn lại thì ghi trong giấy. Mà cái phần thu hồi thì đã có quyết định đền bù riêng.」
Cha nàng gật đầu, và ông ấy gấp cái giấy lại, và ông ấy đặt nó vào trong cái cặp, và ông ấy cài cái khóa, và ông ấy ngồi im.
Rồi ông ấy nói:
「Cảm ơn anh.」
「Dạ, không có gì.」
「Không.」 Ông ấy nói. 「Tôi cảm ơn anh thật. Mà anh cho tôi hỏi một câu: cái hồ sơ này, ai là người ký duyệt?」
Người ấy im một lúc, rồi ông ấy nói:
「Dạ, ông ấy ký. Mà ông ấy không tiếp dân.」
「Tôi không xin gặp.」 Cha nàng nói. 「Tôi chỉ muốn biết cái tên, để tôi thắp hương cho ông nội tôi thì tôi nói được cái tên ấy.」
Người ấy nhìn cha nàng, rồi ông ấy cầm bút, và ông ấy viết cái tên ấy ra một mẩu giấy, và ông ấy đưa.
Cha nàng cầm mẩu giấy, và ông ấy đọc, và ông ấy gấp nó làm tư, và ông ấy để nó vào túi áo, cái túi bên ngực trái.
Ra đến sân, ông ấy đứng dưới cái cây bàng, và ông ấy thở ra, và ông ấy nói:
「Ba mươi năm.」
「Dạ.」
「Ba mươi năm, mà cái giấy ấy chỉ có một tờ.」 Ông ấy nói. 「Cha tưởng nó phải dày hơn.」
Nàng cười, và nàng nói:
「Cha ạ. Cái gì mà mình chờ lâu thì mình tưởng nó to. Mà nó chỉ là một tờ giấy.」
「Ừ.」 Ông ấy nói. 「Mà cái tờ giấy ấy thì nó nặng. Con cầm thử đi.」
Nàng cầm cái cặp. Nó nhẹ. Nhưng nàng hiểu cái ông ấy nói.
—
Về đến xã thì ông Bình đứng ở sân.
Ông ấy đang chỉ tay cho hai người đàn ông treo một cái biển ở trước cửa, và cái biển ấy ghi giờ tiếp dân.
「Ông Hậu.」 Ông ấy nói. 「Xong rồi?」
「Dạ xong.」
「Cho tôi xem.」
Cha nàng mở cặp, và ông ấy cầm cái giấy, và ông ấy mở, và ông ấy xem, và ông ấy gật đầu, và ông ấy nói:
「Đúng rồi. Tám trăm năm mươi.」
Rồi ông ấy đưa lại, và ông ấy nói:
「Tôi nói cái này, nói riêng: cái hồ sơ của ông là cái hồ sơ duy nhất ở cái xã này mà có đủ bốn thứ: giấy cũ, người làm chứng còn sống, biên bản đo có hai bộ số, và cái giấy điểm chỉ ký sau mười hai năm. Người ta thường thiếu một cái. Thiếu một cái là treo.」
「Dạ.」
「Mà này.」 Ông ấy nói, và ông ấy nhìn cái biển mới treo. 「Cái ông tổ trưởng ấy, ông ấy khỏe không?」
「Dạ, ông ấy yếu. Tháng trước ông ấy ngã ở cái sân, mà không sao.」
「Ông ấy già rồi.」 Ông Bình nói. 「Mà cái sổ của ông ấy thì quý. Ở cái xã này, sổ địa chính thì có, mà sổ của ông ấy thì chỉ có một quyển. Ông ấy ghi ba mươi hai năm. Sau này ai muốn biết cái xóm này đã thế nào thì phải đọc cái sổ ấy.」
Nàng đứng nghe, và nàng ghi cái câu ấy vào trong đầu.
—
Chiều ấy, ông tổ trưởng sang.
Ông ấy đi cái gậy, và ông ấy đi chậm, và ông ấy ngồi xuống cái ghế ở hiên, và ông ấy thở một lúc rồi mới nói.
「Cô ạ.」 Ông ấy nói. 「Tôi có một cái này, mà tôi không biết giao cho ai.」
Ông ấy mở cái cặp da, và ông ấy lấy ra cái sổ.
Cái sổ ấy bìa cứng, đã sờn ở bốn góc, và ở trên bìa có một cái nhãn giấy, và trên nhãn viết: SỔ CÔNG VIỆC TỔ ẤY, từ năm ấy.
「Cái sổ này tôi ghi ba mươi hai năm.」 Ông ấy nói. 「Mà bây giờ tay tôi run, tôi không viết được nữa. Tháng trước tôi thử viết một dòng, mà cái dòng ấy nó ngoằn ngoèo, tôi đọc lại còn không ra.」
「Ông ạ.」
「Tôi có hai đứa con.」 Ông ấy nói. 「Một đứa ở trong Nam, nó làm công ty, nó không biết cái xóm này. Một đứa ở cái huyện, nó cũng không biết. Cho nên tôi không giao cho chúng nó. Tôi giao cho cô.」
Nàng ngồi im.
「Sao ông giao cho cháu?」
「Vì cô là cái người duy nhất ở cái xóm này đã đọc cái sổ ấy.」 Ông ấy nói. 「Cô đọc cái dòng tôi ghi ba mươi năm trước, và cô đọc đúng. Mà cái người đọc đúng thì người ấy giữ được.」
Rồi ông ấy mở cái sổ, và ông ấy lật đến trang cuối, và ông ấy đặt nó lên bàn.
「Cái trang này thì còn trống.」 Ông ấy nói. 「Từ cái năm ngoái tôi không ghi. Mà cái năm nay thì có nhiều chuyện. Cô ghi giùm tôi. Cô ghi cái gì cô thấy. Đừng ghi cái gì cô nghĩ.」
「Dạ. Mà ghi thế nào?」
「Thì ghi như tôi ghi.」 Ông ấy nói. 「Ngày, tháng. Rồi cái chuyện. Rồi ai làm. Không có cái gì khác.」
Nàng cầm bút, và nàng ngồi xuống, và nàng nghĩ một lúc, rồi nàng viết.
Nàng viết, và nàng viết chậm, và ông ấy ngồi nhìn, và ông ấy không giục.
Dòng thứ nhất:
Ngày ấy. Đoàn đo đạc của huyện về đo thửa đất của hộ ông Lâm Đức Hậu. Đo theo mốc đá do hai hộ thỏa thuận. Có hai bộ số. Có ông tổ trưởng, có ông Hùng thợ mộc, có năm người trong xóm đứng xem.
Dòng thứ hai:
Ngày ấy. Hộ ông Lâm Đức Hậu di dời mộ bà Lâm Thị ấy về nghĩa trang thôn. Có chính quyền chứng kiến. Trong cái tiểu có một cái khuyên tai bạc, đã giao cho gia đình.
Dòng thứ ba:
Ngày ấy. Cái đường bê tông đổ xong. Đường rộng mười hai mét, hành lang mỗi bên bốn mét. Cái chỗ trước đây là cái gò bây giờ là mặt đường.
Dòng thứ tư:
Ngày ấy. Bà Trần Thị Tư mất tại nhà, hưởng chín mươi mốt tuổi. Bà ấy đã ký giấy xác nhận việc bán đất vào ngày ấy, sau mười hai năm giữ cái phong bì.
Dòng thứ năm:
Ngày ấy. Hộ ông Lâm Đức Hậu nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích tám trăm năm mươi mét vuông. Cái phần ba trăm chín chục mét vuông đã thu hồi làm đường, có quyết định đền bù.
Nàng viết xong, và nàng đọc lại cho ông ấy nghe, và ông ấy nghe, và ông ấy gật đầu ở từng dòng.
Rồi ông ấy nói:
「Cô ạ. Cô thiếu một cái dòng.」
「Dạ?」
「Cái dòng về cái người đã viết cái sổ này.」 Ông ấy nói. 「Cô ghi: ông tổ trưởng, tên là ấy, giao sổ cho bà Lâm Thanh Thanh vào ngày ấy, vì tay ông ấy run, không viết được nữa.」
Nàng cầm bút, và nàng viết dòng ấy, và khi nàng viết đến chữ tay ông ấy run thì nàng dừng lại, và nàng nói:
「Ông ạ. Cháu không muốn ghi cái ấy.」
「Sao?」
「Vì nó làm ông buồn.」
Ông ấy cười, và cái cười ấy khô.
「Cô ạ. Cái sổ này ba mươi hai năm, nó ghi cả cái chuyện người ta chết. Mà cái chuyện tay tôi run thì nó nhỏ hơn cái chuyện người ta chết. Cô ghi đi. Mà cô ghi thêm một câu nữa, câu này tôi nói, cô ghi: ông ấy nói, cái sổ thì phải ở lại cái xóm, không được mang đi.」
Nàng ghi. Rồi ông ấy cầm bút, và ông ấy ký ở dưới, và cái chữ ký ấy ngoằn ngoèo, và nó run, và nó đúng như ông ấy nói.
Rồi ông ấy đóng cái sổ, và ông ấy đẩy nó về phía nàng, và ông ấy nói:
「Bây giờ nó là của cô. Mà cô nhớ: cái sổ này không phải của cô. Cô chỉ là cái người giữ.」
Rồi ông ấy về, và nàng tiễn ông ấy ra cổng, và ông ấy nói một câu nữa trước khi đi:
「Cô ạ. Cái giấy ấy thì tối nay cô để lên cái bàn thờ. Để một đêm. Rồi mai cô cất.」
Tối ấy, cha nàng làm cái ấy.
Ông ấy đặt cái giấy chứng nhận lên cái bàn thờ, ở chỗ giữa, và ông ấy thắp ba nén hương, và ông ấy đứng, và ông ấy nói:
「Mình ơi. Cái giấy ấy về rồi. Muộn, mà nó về.」
Rồi ông ấy nói thêm một câu, và câu ấy nàng nghe rõ:
「Mình đừng lo cái mồ nữa. Cái mồ ở cái nghĩa trang, mà cái đất thì ở trong cái giấy. Hai cái ấy bây giờ không còn ở hai chỗ khác nhau.」
Sơn từ trong buồng đi ra, và nó đứng ở cửa, và nó nói:
「Cha ơi. Cái giấy ấy là cái gì?」
「Là cái giấy nói cái đất này là của nhà mình.」
Nó nhìn cái giấy một lúc, rồi nó nói:
「Thế thì cái ấy có đắt không?」
Cha nàng cười, và ông ấy nói:
「Đắt. Mà không phải đắt bằng tiền.」
—
Tối ấy, nàng mở cái sổ xanh của nàng ra.
Cái sổ ấy là cái sổ nàng ghi từ cái ngày về nhà chồng, và nó có ba mươi bảy trang, và ở mỗi trang có những con số, và ở bên cạnh mỗi con số có một cái tên.
Nàng lật đến trang cuối, và nàng nhìn cái trang ấy một lúc.
Ở đó có một cái bảng nhỏ, và ở trên cùng nàng đã viết: nợ.
Rồi ở dưới là những dòng:
Nợ tiền gạch ông Sáu: hai triệu.
Nợ tiền thuốc bà Mùi: một triệu bốn.
Nợ tiền học của Sơn: chín trăm.
Nợ tiền công cái mái: ba triệu.
Nợ cái khoản vay của cái hội phụ nữ: năm triệu.
Và ở dưới cùng, bằng một cái mực khác, nàng đã viết: tổng cộng.
Nàng cầm bút, và nàng gạch từng dòng, và ở bên cạnh mỗi dòng nàng ghi một chữ: xong.
Rồi nàng cộng lại, và nàng viết ở dưới: còn lại: không.
Nàng ngồi nhìn cái chữ ấy rất lâu, và nàng thấy nó lạ, vì ba năm nay cái trang ấy là cái trang nàng sợ nhất, và bây giờ nó chỉ là một cái trang có những cái gạch.
Rồi nàng nghe ở ngoài sân có tiếng xe máy, và nàng ra, và ở cổng có một người đàn ông, và nàng nhận ra ông ấy: ông ấy là cái người chủ công trường, cái người đã cho Lưu Chính ứng hai chục triệu.
Lưu Chính ra, và anh ta nói:
「Anh ạ. Anh vào nhà.」
「Thôi, tôi đứng đây.」 Ông ấy nói. 「Tôi đi qua, tôi ghé. Cái này trả anh.」
Ông ấy đưa một cái phong bì.
「Dạ, cái gì đây ạ?」
「Cái sổ lương của anh.」 Ông ấy nói. 「Anh làm cái công trình ấy ba tháng, mà tôi chưa trả cái tháng cuối. Trong ấy có bảy triệu. Mà cái khoản ứng hai chục ấy, tôi trừ vào cái ấy rồi.」
「Anh ạ, cái khoản ứng ấy tôi vẫn còn nợ...」
「Không nợ.」 Ông ấy nói. 「Tôi nói cho anh biết: cái hôm anh xin ứng, anh nói anh xin vì cái nhà. Tôi không hỏi. Mà tôi về, tôi nói với cái nhà tôi: cái thằng ấy nó xin ứng ba tháng lương, mà nó không nói nó làm gì. Cái nhà tôi nói: thì cho nó. Người ta mà phải xin ứng ba tháng lương thì người ta đang cần.
Rồi cái công trình ấy xong sớm bảy ngày, vì anh. Anh làm cái móng ấy một mình, mà anh làm đúng, nên cái đoàn kiểm tra nó không bắt bẻ cái gì. Bảy ngày ấy là tiền. Cho nên cái khoản ấy tôi trừ, mà tôi trừ xong thì anh không còn nợ.」
Lưu Chính đứng im, và anh ta cầm cái phong bì, và anh ta không biết nói gì.
「Anh ạ.」
「Đừng cảm ơn.」 Ông ấy nói. 「Mà này, cái tháng sau tôi có cái công trình ở cái huyện bên. Anh có đi thì đi.」
Rồi ông ấy lên xe, và ông ấy đi.
Lưu Chính đứng ở cổng, và anh ta cầm cái phong bì, và anh ta nói:
「Em ạ. Cái khoản ấy, anh tính trả ba năm.」
「Dạ.」
「Mà người ta nói không nợ.」
Nàng đứng cạnh anh ta, và nàng nói:
「Anh ạ. Cái ấy không phải vì tiền. Cái ấy là vì người ta thấy anh làm cái móng ấy một mình.」
—
Đêm ấy, nàng ngồi ở cái bàn, và nàng mở cái sổ của ông tổ trưởng ra, và nàng lật đến cái trang cuối.
Nàng đã ghi năm dòng, và cái dòng thứ sáu về ông ấy, và ở dưới còn một khoảng trắng, và cái khoảng ấy đủ cho hai dòng.
Nàng cầm bút, và nàng đặt ngòi lên giấy, và nàng không viết.
Nàng ngồi đó, và nàng nghe cái nhà, và cái nhà bây giờ có những cái tiếng khác: tiếng cái quạt, tiếng cái tủ lạnh mới mua, và tiếng của Lưu Chính đang gấp cái chăn ở trong buồng.
Rồi nàng đặt bút xuống, và nàng đóng cái sổ, và nàng nói với chính mình:
「Để cái trang ấy trống. Để mai.」
Rồi nàng đi vào buồng, và nàng nằm xuống cái giường ấy, và cái giường ấy không kêu nữa, vì cái gỗ đã quen cái sức nặng.
「Anh ạ.」 Nàng nói.
「Ừ.」
「Cái trang cuối của cái sổ ấy, em để trống.」
「Sao?」
「Vì em không biết phải viết cái gì.」 Nàng nói. 「Em viết năm dòng, mà cái nào cũng là cái chuyện đã xong. Mà em không muốn cái trang cuối cùng của ba mươi hai năm lại là một cái chuyện đã xong.」
Anh ta im một lúc, rồi anh ta nói:
「Thế thì em viết cái chuyện chưa xong.」
「Chuyện gì chưa xong?」
「Thì em nghĩ đi.」 Anh ta nói. 「Cái sổ ấy phải có một cái dòng mở. Không phải cái dòng đóng.」
Ngoài cửa sổ, cái vườn ổi tối, và ở trên trời có trăng, và cái trăng ấy mờ, và nó chiếu xuống cái sân một cái màu bạc, và cái màu ấy rơi đúng chỗ cái viên gạch khác màu.
Cái giấy chứng nhận thì nhận ở phòng đất huyện, và cái hôm ấy là một cái hôm thứ ba, và trời lạnh.
Họ đi từ năm giờ. Cha nàng mặc cái áo the, và ông ấy mang theo cái cặp da, và trong cặp có bốn tờ giấy: cái giấy biên nhận, cái chứng minh thư, cái sổ hộ khẩu, và cái tờ giấy có cái dấu son của bà Tư.
Bà Tư mất rồi, nhưng cái dấu ấy vẫn ở trên giấy, và nó vẫn khuyết một bên.
「Cha ạ.」 Nàng nói, ở trên cái xe đò. 「Cái tờ ấy là tờ cuối cùng.」
「Ừ.」
「Mà nó đến muộn mười hai năm.」
Cha nàng nhìn ra cửa xe, và ông ấy nói:
「Muộn còn hơn không. Mà con ạ, cái gì đến muộn thì người ta giữ nó kỹ hơn.」
Ở phòng đất, cái bàn thứ tư vẫn có cô gái ấy, và cô ấy vẫn đeo kính, và cái chồng hồ sơ trước mặt cô ấy vẫn cao bằng gang tay.
Cô ấy nhận cái cặp, và cô ấy tra cái số hồ sơ, và cô ấy mở cái sổ, và cô ấy nói:
「Dạ, hồ sơ của gia đình mình xong rồi. Có quyết định công nhận. Mời ông vào bàn số hai để nhận giấy và ký.」
Cha nàng đứng dậy, và ông ấy đi, và ông ấy đi chậm, và nàng đi sau ông ấy, và nàng thấy cái lưng ông ấy thẳng.
Ở bàn số hai có một người đàn ông, và ông ấy mở cái ngăn kéo, và ông ấy lấy ra một cái giấy, và cái giấy ấy có bìa đỏ, và ở trên bìa có cái quốc huy.
「Ông ký ở đây, ở đây, và ở đây.」 Người ấy nói. 「Ký ba chỗ. Rồi ghi rõ họ tên, ngày tháng.」
Cha nàng cầm bút, và ông ấy ký, và cái tay ông ấy run, và nàng thấy ông ấy phải đặt cái cổ tay xuống bàn để ký cho đúng.
Rồi người ấy đưa cái giấy cho ông ấy, và ông ấy cầm, và ông ấy mở ra, và ông ấy nhìn.
Nàng đứng bên cạnh, và nàng nhìn theo.
Ở trong cái giấy ấy có một cái bản đồ nhỏ, và ở trên bản đồ có một cái thửa hình chữ nhật, và ở dưới có những dòng chữ in, và ở chỗ người sử dụng đất có một cái tên: Lâm Đức Hậu.
Và ở chỗ diện tích có một con số: tám trăm năm mươi mét vuông.
「Tám trăm năm mươi.」 Cha nàng đọc. 「Hồi trước là một nghìn hai trăm bốn chục.」
「Dạ.」 Người ấy nói. 「Vì nhà nước thu hồi ba trăm chín chục mét vuông làm đường. Cái phần còn lại thì ghi trong giấy. Mà cái phần thu hồi thì đã có quyết định đền bù riêng.」
Cha nàng gật đầu, và ông ấy gấp cái giấy lại, và ông ấy đặt nó vào trong cái cặp, và ông ấy cài cái khóa, và ông ấy ngồi im.
Rồi ông ấy nói:
「Cảm ơn anh.」
「Dạ, không có gì.」
「Không.」 Ông ấy nói. 「Tôi cảm ơn anh thật. Mà anh cho tôi hỏi một câu: cái hồ sơ này, ai là người ký duyệt?」
Người ấy im một lúc, rồi ông ấy nói:
「Dạ, ông ấy ký. Mà ông ấy không tiếp dân.」
「Tôi không xin gặp.」 Cha nàng nói. 「Tôi chỉ muốn biết cái tên, để tôi thắp hương cho ông nội tôi thì tôi nói được cái tên ấy.」
Người ấy nhìn cha nàng, rồi ông ấy cầm bút, và ông ấy viết cái tên ấy ra một mẩu giấy, và ông ấy đưa.
Cha nàng cầm mẩu giấy, và ông ấy đọc, và ông ấy gấp nó làm tư, và ông ấy để nó vào túi áo, cái túi bên ngực trái.
Ra đến sân, ông ấy đứng dưới cái cây bàng, và ông ấy thở ra, và ông ấy nói:
「Ba mươi năm.」
「Dạ.」
「Ba mươi năm, mà cái giấy ấy chỉ có một tờ.」 Ông ấy nói. 「Cha tưởng nó phải dày hơn.」
Nàng cười, và nàng nói:
「Cha ạ. Cái gì mà mình chờ lâu thì mình tưởng nó to. Mà nó chỉ là một tờ giấy.」
「Ừ.」 Ông ấy nói. 「Mà cái tờ giấy ấy thì nó nặng. Con cầm thử đi.」
Nàng cầm cái cặp. Nó nhẹ. Nhưng nàng hiểu cái ông ấy nói.
—
Về đến xã thì ông Bình đứng ở sân.
Ông ấy đang chỉ tay cho hai người đàn ông treo một cái biển ở trước cửa, và cái biển ấy ghi giờ tiếp dân.
「Ông Hậu.」 Ông ấy nói. 「Xong rồi?」
「Dạ xong.」
「Cho tôi xem.」
Cha nàng mở cặp, và ông ấy cầm cái giấy, và ông ấy mở, và ông ấy xem, và ông ấy gật đầu, và ông ấy nói:
「Đúng rồi. Tám trăm năm mươi.」
Rồi ông ấy đưa lại, và ông ấy nói:
「Tôi nói cái này, nói riêng: cái hồ sơ của ông là cái hồ sơ duy nhất ở cái xã này mà có đủ bốn thứ: giấy cũ, người làm chứng còn sống, biên bản đo có hai bộ số, và cái giấy điểm chỉ ký sau mười hai năm. Người ta thường thiếu một cái. Thiếu một cái là treo.」
「Dạ.」
「Mà này.」 Ông ấy nói, và ông ấy nhìn cái biển mới treo. 「Cái ông tổ trưởng ấy, ông ấy khỏe không?」
「Dạ, ông ấy yếu. Tháng trước ông ấy ngã ở cái sân, mà không sao.」
「Ông ấy già rồi.」 Ông Bình nói. 「Mà cái sổ của ông ấy thì quý. Ở cái xã này, sổ địa chính thì có, mà sổ của ông ấy thì chỉ có một quyển. Ông ấy ghi ba mươi hai năm. Sau này ai muốn biết cái xóm này đã thế nào thì phải đọc cái sổ ấy.」
Nàng đứng nghe, và nàng ghi cái câu ấy vào trong đầu.
—
Chiều ấy, ông tổ trưởng sang.
Ông ấy đi cái gậy, và ông ấy đi chậm, và ông ấy ngồi xuống cái ghế ở hiên, và ông ấy thở một lúc rồi mới nói.
「Cô ạ.」 Ông ấy nói. 「Tôi có một cái này, mà tôi không biết giao cho ai.」
Ông ấy mở cái cặp da, và ông ấy lấy ra cái sổ.
Cái sổ ấy bìa cứng, đã sờn ở bốn góc, và ở trên bìa có một cái nhãn giấy, và trên nhãn viết: SỔ CÔNG VIỆC TỔ ẤY, từ năm ấy.
「Cái sổ này tôi ghi ba mươi hai năm.」 Ông ấy nói. 「Mà bây giờ tay tôi run, tôi không viết được nữa. Tháng trước tôi thử viết một dòng, mà cái dòng ấy nó ngoằn ngoèo, tôi đọc lại còn không ra.」
「Ông ạ.」
「Tôi có hai đứa con.」 Ông ấy nói. 「Một đứa ở trong Nam, nó làm công ty, nó không biết cái xóm này. Một đứa ở cái huyện, nó cũng không biết. Cho nên tôi không giao cho chúng nó. Tôi giao cho cô.」
Nàng ngồi im.
「Sao ông giao cho cháu?」
「Vì cô là cái người duy nhất ở cái xóm này đã đọc cái sổ ấy.」 Ông ấy nói. 「Cô đọc cái dòng tôi ghi ba mươi năm trước, và cô đọc đúng. Mà cái người đọc đúng thì người ấy giữ được.」
Rồi ông ấy mở cái sổ, và ông ấy lật đến trang cuối, và ông ấy đặt nó lên bàn.
「Cái trang này thì còn trống.」 Ông ấy nói. 「Từ cái năm ngoái tôi không ghi. Mà cái năm nay thì có nhiều chuyện. Cô ghi giùm tôi. Cô ghi cái gì cô thấy. Đừng ghi cái gì cô nghĩ.」
「Dạ. Mà ghi thế nào?」
「Thì ghi như tôi ghi.」 Ông ấy nói. 「Ngày, tháng. Rồi cái chuyện. Rồi ai làm. Không có cái gì khác.」
Nàng cầm bút, và nàng ngồi xuống, và nàng nghĩ một lúc, rồi nàng viết.
Nàng viết, và nàng viết chậm, và ông ấy ngồi nhìn, và ông ấy không giục.
Dòng thứ nhất:
Ngày ấy. Đoàn đo đạc của huyện về đo thửa đất của hộ ông Lâm Đức Hậu. Đo theo mốc đá do hai hộ thỏa thuận. Có hai bộ số. Có ông tổ trưởng, có ông Hùng thợ mộc, có năm người trong xóm đứng xem.
Dòng thứ hai:
Ngày ấy. Hộ ông Lâm Đức Hậu di dời mộ bà Lâm Thị ấy về nghĩa trang thôn. Có chính quyền chứng kiến. Trong cái tiểu có một cái khuyên tai bạc, đã giao cho gia đình.
Dòng thứ ba:
Ngày ấy. Cái đường bê tông đổ xong. Đường rộng mười hai mét, hành lang mỗi bên bốn mét. Cái chỗ trước đây là cái gò bây giờ là mặt đường.
Dòng thứ tư:
Ngày ấy. Bà Trần Thị Tư mất tại nhà, hưởng chín mươi mốt tuổi. Bà ấy đã ký giấy xác nhận việc bán đất vào ngày ấy, sau mười hai năm giữ cái phong bì.
Dòng thứ năm:
Ngày ấy. Hộ ông Lâm Đức Hậu nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích tám trăm năm mươi mét vuông. Cái phần ba trăm chín chục mét vuông đã thu hồi làm đường, có quyết định đền bù.
Nàng viết xong, và nàng đọc lại cho ông ấy nghe, và ông ấy nghe, và ông ấy gật đầu ở từng dòng.
Rồi ông ấy nói:
「Cô ạ. Cô thiếu một cái dòng.」
「Dạ?」
「Cái dòng về cái người đã viết cái sổ này.」 Ông ấy nói. 「Cô ghi: ông tổ trưởng, tên là ấy, giao sổ cho bà Lâm Thanh Thanh vào ngày ấy, vì tay ông ấy run, không viết được nữa.」
Nàng cầm bút, và nàng viết dòng ấy, và khi nàng viết đến chữ tay ông ấy run thì nàng dừng lại, và nàng nói:
「Ông ạ. Cháu không muốn ghi cái ấy.」
「Sao?」
「Vì nó làm ông buồn.」
Ông ấy cười, và cái cười ấy khô.
「Cô ạ. Cái sổ này ba mươi hai năm, nó ghi cả cái chuyện người ta chết. Mà cái chuyện tay tôi run thì nó nhỏ hơn cái chuyện người ta chết. Cô ghi đi. Mà cô ghi thêm một câu nữa, câu này tôi nói, cô ghi: ông ấy nói, cái sổ thì phải ở lại cái xóm, không được mang đi.」
Nàng ghi. Rồi ông ấy cầm bút, và ông ấy ký ở dưới, và cái chữ ký ấy ngoằn ngoèo, và nó run, và nó đúng như ông ấy nói.
Rồi ông ấy đóng cái sổ, và ông ấy đẩy nó về phía nàng, và ông ấy nói:
「Bây giờ nó là của cô. Mà cô nhớ: cái sổ này không phải của cô. Cô chỉ là cái người giữ.」
Rồi ông ấy về, và nàng tiễn ông ấy ra cổng, và ông ấy nói một câu nữa trước khi đi:
「Cô ạ. Cái giấy ấy thì tối nay cô để lên cái bàn thờ. Để một đêm. Rồi mai cô cất.」
Tối ấy, cha nàng làm cái ấy.
Ông ấy đặt cái giấy chứng nhận lên cái bàn thờ, ở chỗ giữa, và ông ấy thắp ba nén hương, và ông ấy đứng, và ông ấy nói:
「Mình ơi. Cái giấy ấy về rồi. Muộn, mà nó về.」
Rồi ông ấy nói thêm một câu, và câu ấy nàng nghe rõ:
「Mình đừng lo cái mồ nữa. Cái mồ ở cái nghĩa trang, mà cái đất thì ở trong cái giấy. Hai cái ấy bây giờ không còn ở hai chỗ khác nhau.」
Sơn từ trong buồng đi ra, và nó đứng ở cửa, và nó nói:
「Cha ơi. Cái giấy ấy là cái gì?」
「Là cái giấy nói cái đất này là của nhà mình.」
Nó nhìn cái giấy một lúc, rồi nó nói:
「Thế thì cái ấy có đắt không?」
Cha nàng cười, và ông ấy nói:
「Đắt. Mà không phải đắt bằng tiền.」
—
Tối ấy, nàng mở cái sổ xanh của nàng ra.
Cái sổ ấy là cái sổ nàng ghi từ cái ngày về nhà chồng, và nó có ba mươi bảy trang, và ở mỗi trang có những con số, và ở bên cạnh mỗi con số có một cái tên.
Nàng lật đến trang cuối, và nàng nhìn cái trang ấy một lúc.
Ở đó có một cái bảng nhỏ, và ở trên cùng nàng đã viết: nợ.
Rồi ở dưới là những dòng:
Nợ tiền gạch ông Sáu: hai triệu.
Nợ tiền thuốc bà Mùi: một triệu bốn.
Nợ tiền học của Sơn: chín trăm.
Nợ tiền công cái mái: ba triệu.
Nợ cái khoản vay của cái hội phụ nữ: năm triệu.
Và ở dưới cùng, bằng một cái mực khác, nàng đã viết: tổng cộng.
Nàng cầm bút, và nàng gạch từng dòng, và ở bên cạnh mỗi dòng nàng ghi một chữ: xong.
Rồi nàng cộng lại, và nàng viết ở dưới: còn lại: không.
Nàng ngồi nhìn cái chữ ấy rất lâu, và nàng thấy nó lạ, vì ba năm nay cái trang ấy là cái trang nàng sợ nhất, và bây giờ nó chỉ là một cái trang có những cái gạch.
Rồi nàng nghe ở ngoài sân có tiếng xe máy, và nàng ra, và ở cổng có một người đàn ông, và nàng nhận ra ông ấy: ông ấy là cái người chủ công trường, cái người đã cho Lưu Chính ứng hai chục triệu.
Lưu Chính ra, và anh ta nói:
「Anh ạ. Anh vào nhà.」
「Thôi, tôi đứng đây.」 Ông ấy nói. 「Tôi đi qua, tôi ghé. Cái này trả anh.」
Ông ấy đưa một cái phong bì.
「Dạ, cái gì đây ạ?」
「Cái sổ lương của anh.」 Ông ấy nói. 「Anh làm cái công trình ấy ba tháng, mà tôi chưa trả cái tháng cuối. Trong ấy có bảy triệu. Mà cái khoản ứng hai chục ấy, tôi trừ vào cái ấy rồi.」
「Anh ạ, cái khoản ứng ấy tôi vẫn còn nợ...」
「Không nợ.」 Ông ấy nói. 「Tôi nói cho anh biết: cái hôm anh xin ứng, anh nói anh xin vì cái nhà. Tôi không hỏi. Mà tôi về, tôi nói với cái nhà tôi: cái thằng ấy nó xin ứng ba tháng lương, mà nó không nói nó làm gì. Cái nhà tôi nói: thì cho nó. Người ta mà phải xin ứng ba tháng lương thì người ta đang cần.
Rồi cái công trình ấy xong sớm bảy ngày, vì anh. Anh làm cái móng ấy một mình, mà anh làm đúng, nên cái đoàn kiểm tra nó không bắt bẻ cái gì. Bảy ngày ấy là tiền. Cho nên cái khoản ấy tôi trừ, mà tôi trừ xong thì anh không còn nợ.」
Lưu Chính đứng im, và anh ta cầm cái phong bì, và anh ta không biết nói gì.
「Anh ạ.」
「Đừng cảm ơn.」 Ông ấy nói. 「Mà này, cái tháng sau tôi có cái công trình ở cái huyện bên. Anh có đi thì đi.」
Rồi ông ấy lên xe, và ông ấy đi.
Lưu Chính đứng ở cổng, và anh ta cầm cái phong bì, và anh ta nói:
「Em ạ. Cái khoản ấy, anh tính trả ba năm.」
「Dạ.」
「Mà người ta nói không nợ.」
Nàng đứng cạnh anh ta, và nàng nói:
「Anh ạ. Cái ấy không phải vì tiền. Cái ấy là vì người ta thấy anh làm cái móng ấy một mình.」
—
Đêm ấy, nàng ngồi ở cái bàn, và nàng mở cái sổ của ông tổ trưởng ra, và nàng lật đến cái trang cuối.
Nàng đã ghi năm dòng, và cái dòng thứ sáu về ông ấy, và ở dưới còn một khoảng trắng, và cái khoảng ấy đủ cho hai dòng.
Nàng cầm bút, và nàng đặt ngòi lên giấy, và nàng không viết.
Nàng ngồi đó, và nàng nghe cái nhà, và cái nhà bây giờ có những cái tiếng khác: tiếng cái quạt, tiếng cái tủ lạnh mới mua, và tiếng của Lưu Chính đang gấp cái chăn ở trong buồng.
Rồi nàng đặt bút xuống, và nàng đóng cái sổ, và nàng nói với chính mình:
「Để cái trang ấy trống. Để mai.」
Rồi nàng đi vào buồng, và nàng nằm xuống cái giường ấy, và cái giường ấy không kêu nữa, vì cái gỗ đã quen cái sức nặng.
「Anh ạ.」 Nàng nói.
「Ừ.」
「Cái trang cuối của cái sổ ấy, em để trống.」
「Sao?」
「Vì em không biết phải viết cái gì.」 Nàng nói. 「Em viết năm dòng, mà cái nào cũng là cái chuyện đã xong. Mà em không muốn cái trang cuối cùng của ba mươi hai năm lại là một cái chuyện đã xong.」
Anh ta im một lúc, rồi anh ta nói:
「Thế thì em viết cái chuyện chưa xong.」
「Chuyện gì chưa xong?」
「Thì em nghĩ đi.」 Anh ta nói. 「Cái sổ ấy phải có một cái dòng mở. Không phải cái dòng đóng.」
Ngoài cửa sổ, cái vườn ổi tối, và ở trên trời có trăng, và cái trăng ấy mờ, và nó chiếu xuống cái sân một cái màu bạc, và cái màu ấy rơi đúng chỗ cái viên gạch khác màu.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Người đàn ông vẫn dậy lúc bốn giờ
Chương 79: Trang cuối của cuốn sổ
Chương 78: Cái phong bì của bà Tư
Chương 77: Đám cưới lần thứ hai
Chương 76: Cái giường đôi
Chương 75: Ngôi nhà mới
Chương 74: Con đường bê tông
Chương 73: Một đêm ở sân đình
Chương 72: Cái loa phóng thanh
Chương 71: Cuộc họp ở nhà văn hóa
Chương 70: Đơn khiếu nại
Chương 69: Người anh em họ
Chương 68: Cái mốc đỏ
Chương 67: Giá đền bù
Chương 66: Ông tổ trưởng đến nhà
Chương 65: Cái sân gạch mới
Chương 64: Bức thư không gửi
Chương 63: Người không đến
Chương 62: Cái ghế trong lễ tốt nghiệp
Chương 61: Ngày nhận bằng
Chương 60: Cái vòng tay
Chương 59: Căn phòng trọ ở thành phố
Chương 58: Chuyến tàu đêm
Chương 57: Cái cổng khóa ngoài
Chương 56: Người về muộn
Chương 55: Tờ đơn ly hôn
Chương 54: Cái đèn dầu
Chương 53: Một câu hỏi
Chương 52: Cái hộp sắt dưới gầm giường
Chương 51: Chị hộ lý
Chương 50: Đêm thứ ba ở bệnh viện
Chương 49: Cái ghế ở hành lang
Chương 48: Cha tôi nằm viện
Chương 47: Tiền bán con bò
Chương 46: Cái búa của thợ mộc
Chương 45: Người làm chứng
Chương 44: Đồn công an huyện
Chương 43: Cái bàn tay bầm tím
Chương 42: Tờ giấy của ông Lưu
Chương 41: Người đến đòi nợ
Chương 40: Cái máy bơm
Chương 39: Nước ngập bờ
Chương 38: Lúa đổ
Chương 37: Cái cân ở chợ
Chương 36: Một trăm nghìn trong phong bì
Chương 35: Cái chăn bông cũ
Chương 34: Thư của cha
Chương 33: Người ta nhầm anh là bố em
Chương 32: Bát phở ở bến xe
Chương 31: Cái thẻ sinh viên
Chương 30: Người đàn ông đứng ở cổng trường
Chương 29: Cái điện thoại reo ba lần
Chương 28: Buổi tối ở ký túc xá
Chương 27: Học bổng
Chương 26: Người bạn cùng phòng
Chương 25: Cái áo sơ mi trắng
Chương 24: Anh chở em qua cầu
Chương 23: Đi chợ huyện
Chương 22: Cái tủ gỗ lim
Chương 21: Giấy mời họp họ
Chương 20: Con chó vàng
Chương 19: Cái quạt hỏng
Chương 18: Đêm mưa to
Chương 17: Người đàn bà ở đầu ngõ
Chương 16: Cái ấm nước trên bếp than
Chương 15: Đứa em chồng đến vay tiền
Chương 14: Vết sẹo ở chân trái
Chương 13: Cái giường kê thêm tấm ván
Chương 12: Bữa cơm có thịt
Chương 11: Cái sổ nợ của cô dâu
Chương 10: Người ta nói gì thì nói
Chương 9: Con dao phay và cái thớt
Chương 8: Món canh mặn
Chương 7: Chuyến xe buýt lúc năm giờ
Chương 6: Cái chạn bát của mẹ anh
Chương 5: Đêm anh không ngủ
Chương 4: Mùa gặt đầu tiên
Chương 3: Cái sân có ba con gà
Chương 2: Tờ giấy ở phòng đăng ký
Chương 1: Người đàn ông đến trả học phí