Chương 42: Tờ giấy của ông Lưu
Chương 42: Tờ giấy của ông Lưu
Cái sáng hôm sau, cái trời trong, và cái trong ấy không phải cái trong dễ chịu, là cái trong của cái trời sau một cái đêm có cái chuyện.
Nàng dậy lúc năm giờ, và nàng nấu cơm sớm, và nàng gấp cái giấy của cái bà cụ vào một cái túi vải khô, và nàng buộc cái túi ấy vào trong cái túi của nàng, và ở cạnh cái sổ xanh, và nàng nghĩ: cái giấy ấy đi cái hôm nay phải về cái hôm nay, và không được ướt, và không được mất, vì là cái giấy thay một cái người mất.
Lưu Chính dậy trước nàng. Anh ta đã rửa cái mặt, và anh ta đã đốt cái bếp, và anh ta đang ngồi ở cái bậc xem con Vàng ăn, và ở cạnh cái chân anh ta có cái gậy mỏng, cái gậy anh ta không dùng để đi ở làng, chỉ dùng ở những cái hôm cái chân trái mỏi hơn cái thường ngày.
Anh ta nói:
「Hôm nay tôi đi với cô.」
Nàng nói:
「Anh mới về lúc bốn giờ. Anh ngủ thêm.」
Anh ta nói:
「Ở cái nhà này, cái hôm có cái chuyện giấy tờ, thì cái người có cái tên trên cái giấy ấy phải đi. Cái ấy không phải cái chuyện mệt hay không mệt.」
Nàng không nói nữa. Nàng múc cơm, và hai cái người ăn cơm ở cái gian ngoài, và cái cơm ấy ăn nhanh, và ở trên cái bàn chỉ có cái nước chè, và không có cái câu nào nói ngoài một cái câu:
「Ăn hết đi. Cái đường dài một cái tiếng.」
Cái đường ra cái xã đi ngang cái chợ, và lúc bảy giờ thì cái chợ mở, và ở cái chợ có cái tiếng của cái người ta bán, và con Vàng đi theo đến cái đầu cái chợ rồi ngồi lại, vì cái con chó biết cái chỗ được đi và cái chỗ phải đợi, và đợi ở cái chỗ biết cái người sẽ quay lại.
Cái xã là một cái nhà thấp, sơn cái màu xanh phai, và ở trước có cái cột dán những cái giấy thông báo, và cái giấy cũ chồng lên cái giấy mới, và ở đó rung ở cái gió.
Cái ông ở cái xã là cái ông nàng đã gặp cái hôm đi đăng ký, và cái ông ấy nhớ nàng, và cái ông ấy hỏi:
「Cô Lâm à. Hôm nay cô đến cái chuyện gì.」
Nàng nói:
「Dạ, em đến hai cái chuyện. Cái chuyện thứ nhất: em xin cái bản sao có dấu của cái giấy tờ cái nhà. Cái chuyện thứ hai: em có cái chuyện khó, em xin ông nghe.」
Cái ông ấy gật đầu, và ông ấy đi vào cái phòng có cái tủ sắt, và ông ấy mở cái tủ, và ông ấy lật cái sổ, và ông ấy tìm, và cái tay ông ấy dừng ở một cái trang, và ông ấy đọc, và ông ấy gật đầu một mình.
Rồi ông ấy đi ra, và ông ấy nói:
「Cái nhà này ghi cái tên Lưu Chính, từ cái năm cái bà mất. Cái ghi ấy đủ, và có cái dấu của cái xã cũ. Cô muốn cái bản sao có dấu thì cô chờ nửa cái tiếng, cái máy photocopy ở cái phòng bên.」
Rồi ông ấy hỏi:
「Cái chuyện thứ hai là cái chuyện gì.」
Nàng kể. Nàng kể cái chuyện cái người đến đòi, cái tờ giấy có cái chữ ký, và cái câu cuối ghi cái nhà. Nàng kể chậm, và có thứ tự, vì nàng đã nghĩ cái kể ấy từ tối qua, và nàng kể như cái người ta đọc cái sổ, không thêm và không giảm.
Cái ông ấy nghe, và ở cái mặt ông ấy có cái gì sáu mươi cái năm quen với cái chuyện của các cái người đến, và khi nàng kể xong, ông ấy nói:
「Cô ă, cái tờ giấy vay ở cái quán không có cái giá trị trước cái xã, vì cái người ký không phải cái người đứng tên cái nhà. Mà tôi nói cái có: có cái giá trị trước cái miệng của các cái người nói. Nó là cái thứ làm cái làng nghiêng về phía cái người cầm, vì cái người ta không đi đọc cái sổ của cái xã.」
Nàng nói:
「Dạ. Thế thì cái sổ này phải đi ra khỏi cái phòng này, và phải vào cái đầu của cái làng.」
Cái ông ấy nhìn nàng, và ông ấy cười một cái nụ cười mỏng, và ông ấy nói:
「Cô nói cái câu ấy thì cô nói như cái người ở cái xã. Cô ă, tôi làm cái chuyện này hai mươi cái năm, và tôi thấy cái người ta thắng cái chuyện không phải ở cái chỗ có cái lý. Nó ở cái chỗ có cái lý và biết đưa cái lý ấy ra ở cái chỗ nào và cái lúc nào. Cô à, cái nhà của cô có cái giấy nữa không? Cái giấy của cái ông cụ, cái ông Lưu, hồi cái nhà dựng lại có cái chuyện cái giấy cái phân của hai cái con. Cái giấy ấy nếu còn thì mạnh hơn mọi cái thứ tôi nói.」
Nàng im một cái nhịp, vì cái câu ấy đánh vào một cái chỗ nàng chưa mở ra: cái hộp của cái mẹ.
Nàng nói:
「Dạ, em phải về xem cái hộp. Em nhớ hồi cái mẹ chồng em mất, em nghe anh ấy nói cái chuyện cái giấy, mà em chưa từng mở ra.」
Cái ông ấy nói:
「Về mà coi. Cái người cũ hay để cái giấy quan trọng ở dưới cái tầng dưới cùng, bọc bằng cái dầu, vì cái người cũ sợ cái mưa và cái mối hơn cái người ta bây giờ sợ cái mất. Và cô ă, cái giấy ấy mà có cái dấu tay của hai cái người làm chứng, mà hai cái người ấy còn sống thì cô kêu họ ra cái xã làm cái chứng, cái ấy thì là cái thứ không có cái ai nói cái ngược lại.」
Nàng ghi lại từng cái câu vào trong đầu, và là cái loại ghi không cần cái giấy, vì cái chuyện này là cái chuyện nàng đã tập từ cái hồi nàng làm cái sổ xanh.
Cái bản sao có dấu được đưa ra lúc tám giờ, và cái giấy còn ấm, vì cái máy photocopy nóng, và ở cái góc có cái dấu đỏ của cái xã, và cái dấu ấy tròn, và là cái dấu làm cái tờ giấy trọng lên gấp hai, và làm cái túi vải ở trong cái túi của nàng nặng lên gấp hai, dù cái cân không đổi.
Lưu Chính đứng ở ngoài, ở cái chỗ có cái ghế đá, và anh ta không đi vào, vì anh ta nói ở trong đó là cái chuyện của cái người có cái chữ, và anh ta là cái người không có cái chữ, và cái tự ái của anh ta là cái loại tự ái ngồi ở ngoài và chờ, và không hỏi bao giờ xong.
Rồi hai cái người đi về. Trên cái đường, anh ta hỏi:
「Cái ông ấy nói cái gì.」
Nàng kể, và khi nàng kể đến cái chỗ cái ông ấy hỏi cái giấy của cái ông Lưu, anh ta dừng lại, và anh ta đứng ở giữa cái đường, và anh ta nói:
「Cái giấy ấy tôi không biết có hay không. Tôi biết cái chuyện hồi dựng nhà lại cái bố tôi phân cái nhà cho tôi, vì tôi là cái đứa ở lại chăm cái bố cái mẹ. Cái thằng Dũng được cái nhà mới ở cái xóm trên và cái tiền dựng. Cái chuyện ấy cái làng biết. Mà cái giấy có hay không thì tôi không biết, vì cái hộp ấy tôi chưa mở lại từ cái hôm cái mẹ tôi mất.」
Nàng hỏi:
「Sao anh chưa mở lại.」
Anh ta im một lúc, và anh ta đi, và anh ta nói, và cái giọng ấy chậm:
「Vì ở trong cái hộp ấy có cái mùi của cái mẹ tôi. Cái người ta mở cái hộp là cái người ta mở cái chỗ có cái mùi của một cái người không còn, và cái mở làm cái người ta già đi một cái tuổi. Tôi sợ cái già ấy, cô ă. Tôi sợ hơn cái sợ cái mười hai triệu.」
Nàng không nói gì. Nàng chỉ đi cạnh anh ta, và cái đi cạnh ấy là cái câu trả lời có, và không cần cái nói.
Ở nhà, cái hộp được đặt ra ở giữa cái bàn. Cái hộp ấy bằng cái gỗ mỏng, và sơn cái màu đen phai, và cái quai bằng cái dây thép quấn cái vải, và có một cái ổ khóa nhỏ, và cái chìa treo ở trên cái vách, ở cái đinh gõ một cái góc cao, cái đinh gõ ở cái chỗ chỉ có cái người cao lấy được, và Lưu Chính là cái người cao.
Anh ta lấy cái chìa. Cái tay anh ta cầm cái chìa một lúc, và không đi vào cái ổ ngay, và đứng ở đấy chừng mười cái nhịp, và là mười cái nhịp anh ta không thở, và nàng đứng ở cạnh, và nàng không vội.
Rồi cái khóa mở. Cái tiếng của cái khóa tách, và cái tiếng ấy nhỏ, và làm cái phòng im hơn cái trước.
Ở trong cái hộp, là cái thế giới của một cái người sắp xếp kỹ: có cái áo gấp, có cái khăn xếp vuông, có cái trống của cái đồng hồ không chạy, có cái giấy báo của cái đám tang, và ở dưới cùng, đúng như cái lời của cái ông ở cái xã, có một cái gói bọc bằng cái giấy dầu, buộc bằng cái dây gai, và cái gói ấy phẳng, và cứng.
Lưu Chính đặt cái gói ra ở trên cái bàn, và anh ta không mở ngay, anh ta dùng cái móng tay tách cái dây, và cái tay anh ta làm chậm, và run một chút, và là cái run không phải cái sợ, là cái run của cái người sắp đọc cái chữ của cái bố, và cái chữ của cái bố là cái thứ nói từ cái dưới cái đất.
Cái gói mở ra. Nó có ba cái tờ. Tờ thứ nhất là cái giấy cái nhà mua cái tôn. Tờ thứ hai là cái giấy cái mượn cái tiền dựng cái nhà trả rồi, có cái ghi đỏ ở giữa: ĐÃ XONG. Còn tờ thứ ba, cái tờ nằm ở dưới cùng, là một cái tờ giấy vàng, viết bằng cái mực tím phai, và cái chữ là cái chữ to xiêu, cái chữ của một cái người học ít và viết bằng cái sức của nó, và ở dưới cái chữ có hai cái dấu tay đỏ, và một cái chữ ký nguệch ngoạc của cái ông Lưu.
Nàng đọc to, vì Lưu Chính đứng ở đấy không đọc nổi, và cái đọc to là cái cách nàng chia cho anh ta cái sức:
「Cái năm một chín chín tám, cái tháng Chín. Tôi là Lưu Văn, tôi nói cái chuyện cái nhà này. Cái nhà có ba cái gian và cái sân gạch nửa. Cái gian thuộc về Lưu Chính, vì Chính ở lại chăm tôi và cái mẹ, cày, bán cái gà trả cái thuốc, không đi một cái ngày. Cái thằng Dũng được cái nhà mới ở cái xóm trên, cái tiền dựng là cái tiền tôi cho nó, hai triệu tám, và là cái tiền tôi cho nó xong, không phải cái cho nó vay. Cái sân và cái giếng thuộc cái gian của Chính. Hai cái người làm chứng nhìn tôi viết và họ ký: cụ Tám Điền và cụ Năm Thóc. Cái nhà này theo cái gian, không theo cái người nói. Ai nói cái khác thì cái người ấy mang cái giấy này ra.」
Nàng đọc xong, và cái phòng im, và con Vàng nằm ở dưới cái bàn, và im cùng cái phòng.
Lưu Chính ngồi xuống, và anh ta ngồi chậm, như cái người mới leo cái dốc dài, và anh ta cầm cái tờ giấy, và anh ta cầm bằng hai cái tay, như cái người ta cầm một cái chén đầy đến cái mép, và anh ta nói, và cái giọng ấy không phải cái giọng nói với nàng, là cái giọng nói với cái tờ giấy:
「Bố ă. Con không biết bố viết cái này. Con ở đấy con làm, con không biết bố đang viết con ở đâu.」
Rồi anh ta không nói gì nữa, và ở cái mắt anh ta có cái nước không rơi, chỉ nằm ở đấy, và cái nằm ấy là cái nằm của cái nước không muốn làm cái phòng thấy.
Nàng đứng lên, và nàng đi ra cái bếp, và nàng đun cái nước, và cái đun ấy là cái cách nàng cho cái phòng một cái tiếng, vì ở những cái lúc như thế, cái im không phải cái thứ giúp.
Nước sôi, nàng rót hai cái chén chè, và nàng bưng ra, và anh ta đã lau cái mặt, và anh ta cầm cái chén, và anh ta nói:
「Cụ Tám Điền còn sống. Nó ở cái xóm dưới, chín mươi một. Cụ Năm Thóc mất từ hồi cái mưa lụt năm hai nghìn không.」
Nàng nói:
「Một cái người làm chứng còn thì đủ, vì cái ông ở cái xã nói một cái người ký trước cái mặt cái xã là cái đủ, mà hai cái dấu tay ở trên cái giấy thì làm cái giấy mạnh, không làm yếu. Cụ Tám chín mươi một, đi được không.」
Anh ta nói:
「Nó đi được. Nó đi bằng cái xe đẩy của cái cháu. Mà cái cụ ấy mạnh cái đầu hơn cái người sáu mươi. Nó nhớ tất cả.」
Buổi chiều, cái xe đẩy đưa cụ Tám ra cái xã. Cụ ấy mặc cái áo đen cũ, và cái mũ rách khâu ở cái mép, và cụ ngồi ở cái xe đẩy như cái cụ ngồi ở một cái ghế sang, vì cái đi ra cái xã là cái chuyện trọng với một cái người chín mươi.
Ở cái xã, cụ Tám ký cái tên, và cụ viết chậm, và cái chữ của cụ như cái chữ của cái người học viết hồi nhỏ và không quên bao giờ, và cụ nói, và cái giọng cụ đục:
「Tôi ký. Cái chuyện cái nhà này tôi nhớ hơn tôi nhớ cái tuổi của tôi. Hồi cái ông Lưu viết cái giấy, tôi đứng ở cái chỗ có cái cây xoan, và cái ông ấy viết bằng cái bút bi mượn của tôi, vì cái bút của nó hết cái mực. Cái thằng Dũng đứng ở cạnh, đỏ cái mặt, và không nói một cái câu, vì cái biết đúng.」
Cái ông ở cái xã lắng nghe, và ông ấy ghi tất cả, và ở cái cuối ông ấy đóng cái dấu đỏ lên cái giấy, và ông ấy nói:
「Cái giấy này ở lại đây một cái bản. Cái bản gốc mang về, và phải ở cái chỗ khô, và cô ă, cái lần sau có ai đến cái sân của cô nói cái chuyện cái nhà, thì cô không cần nói cái gì. Cô đưa cái giấy này. Cái giấy nói giỏi hơn cái miệng.」
Rồi cái ông ấy hỏi thêm một cái câu, và cái câu ấy làm nàng nhớ:
「Cái thằng Lưu Dũng biết cái chuyện này không.」
Nàng nói:
「Dạ, chưa biết.」
Cái ông ấy gật đầu, và ông ấy nói, và cái giọng ấy chậm:
「Vậy thì nói trước, cô ă. Cái giấy mạnh, mà cái mạnh hơn cái giấy là cái chuyện cái người ta biết trước ở trong cái nhà, không phải nghe từ cái người đòi nợ. Cái người nghe cái chuyện cái nhà từ cái người ngoài thì cái người ấy thành cái người lạ ở trong cái nhà.」
Nàng ghi cái câu ấy vào trong cái đầu, và là cái câu nặng, vì cái nói với Lưu Dũng không phải cái chuyện khó vì cái khó hiểu, khó vì cái khó nghe.
Cái chiều, trên cái đường về, cụ Tám ngồi ở cái xe đẩy, và cụ nói với Lưu Chính, và cái giọng cụ đục:
「Chính ă. Cái bố cô là cái người không biết viết đẹp, mà biết viết đúng. Cái bố cô để lại cho cô hai cái thứ: cái nhà và cái giấy. Cái nhà cho cô ở, cái giấy cho cô đừng sợ. Cô mang hai cái thứ ấy đi, thì cái người ta đến cái sân cô bao nhiêu cái lần cũng về tay không.」
Lưu Chính đẩy cái xe, và anh ta không nói, và ở cái gáy anh ta có cái gì nhấp nhô, và là cái nhấp nhô gồng lại, và là cái thứ làm nàng biết cái người ấy đang mang một cái thứ nặng hơn cái xe đẩy, và cái thứ ấy không cân được.
Ở cái đầu cái xóm, có một cái người chạy ra, và đó là cái con của bà bán cái nước, và nói:
「Anh Chính ơi. Cái thằng Dũng về rồi. Nó về lúc cái trưa, và ở trong nhà không ra, và đốt cái đèn từ cái trưa, và cái người ta ở cái xóm nói bị đánh, và kêu cả cái đêm không có ở đấy.」
Lưu Chính dừng cái xe đẩy. Cụ Tám ngẩng lên.
Nàng nhìn anh ta, và anh ta nhìn nàng, và là cái nhìn thống nhất một chuyện mà không ai nói ra: cái mai có hai cái chuyện, và bắt đầu từ cái nhà có cái đèn đốt từ cái trưa.
Cái sáng hôm sau, cái trời trong, và cái trong ấy không phải cái trong dễ chịu, là cái trong của cái trời sau một cái đêm có cái chuyện.
Nàng dậy lúc năm giờ, và nàng nấu cơm sớm, và nàng gấp cái giấy của cái bà cụ vào một cái túi vải khô, và nàng buộc cái túi ấy vào trong cái túi của nàng, và ở cạnh cái sổ xanh, và nàng nghĩ: cái giấy ấy đi cái hôm nay phải về cái hôm nay, và không được ướt, và không được mất, vì là cái giấy thay một cái người mất.
Lưu Chính dậy trước nàng. Anh ta đã rửa cái mặt, và anh ta đã đốt cái bếp, và anh ta đang ngồi ở cái bậc xem con Vàng ăn, và ở cạnh cái chân anh ta có cái gậy mỏng, cái gậy anh ta không dùng để đi ở làng, chỉ dùng ở những cái hôm cái chân trái mỏi hơn cái thường ngày.
Anh ta nói:
「Hôm nay tôi đi với cô.」
Nàng nói:
「Anh mới về lúc bốn giờ. Anh ngủ thêm.」
Anh ta nói:
「Ở cái nhà này, cái hôm có cái chuyện giấy tờ, thì cái người có cái tên trên cái giấy ấy phải đi. Cái ấy không phải cái chuyện mệt hay không mệt.」
Nàng không nói nữa. Nàng múc cơm, và hai cái người ăn cơm ở cái gian ngoài, và cái cơm ấy ăn nhanh, và ở trên cái bàn chỉ có cái nước chè, và không có cái câu nào nói ngoài một cái câu:
「Ăn hết đi. Cái đường dài một cái tiếng.」
Cái đường ra cái xã đi ngang cái chợ, và lúc bảy giờ thì cái chợ mở, và ở cái chợ có cái tiếng của cái người ta bán, và con Vàng đi theo đến cái đầu cái chợ rồi ngồi lại, vì cái con chó biết cái chỗ được đi và cái chỗ phải đợi, và đợi ở cái chỗ biết cái người sẽ quay lại.
Cái xã là một cái nhà thấp, sơn cái màu xanh phai, và ở trước có cái cột dán những cái giấy thông báo, và cái giấy cũ chồng lên cái giấy mới, và ở đó rung ở cái gió.
Cái ông ở cái xã là cái ông nàng đã gặp cái hôm đi đăng ký, và cái ông ấy nhớ nàng, và cái ông ấy hỏi:
「Cô Lâm à. Hôm nay cô đến cái chuyện gì.」
Nàng nói:
「Dạ, em đến hai cái chuyện. Cái chuyện thứ nhất: em xin cái bản sao có dấu của cái giấy tờ cái nhà. Cái chuyện thứ hai: em có cái chuyện khó, em xin ông nghe.」
Cái ông ấy gật đầu, và ông ấy đi vào cái phòng có cái tủ sắt, và ông ấy mở cái tủ, và ông ấy lật cái sổ, và ông ấy tìm, và cái tay ông ấy dừng ở một cái trang, và ông ấy đọc, và ông ấy gật đầu một mình.
Rồi ông ấy đi ra, và ông ấy nói:
「Cái nhà này ghi cái tên Lưu Chính, từ cái năm cái bà mất. Cái ghi ấy đủ, và có cái dấu của cái xã cũ. Cô muốn cái bản sao có dấu thì cô chờ nửa cái tiếng, cái máy photocopy ở cái phòng bên.」
Rồi ông ấy hỏi:
「Cái chuyện thứ hai là cái chuyện gì.」
Nàng kể. Nàng kể cái chuyện cái người đến đòi, cái tờ giấy có cái chữ ký, và cái câu cuối ghi cái nhà. Nàng kể chậm, và có thứ tự, vì nàng đã nghĩ cái kể ấy từ tối qua, và nàng kể như cái người ta đọc cái sổ, không thêm và không giảm.
Cái ông ấy nghe, và ở cái mặt ông ấy có cái gì sáu mươi cái năm quen với cái chuyện của các cái người đến, và khi nàng kể xong, ông ấy nói:
「Cô ă, cái tờ giấy vay ở cái quán không có cái giá trị trước cái xã, vì cái người ký không phải cái người đứng tên cái nhà. Mà tôi nói cái có: có cái giá trị trước cái miệng của các cái người nói. Nó là cái thứ làm cái làng nghiêng về phía cái người cầm, vì cái người ta không đi đọc cái sổ của cái xã.」
Nàng nói:
「Dạ. Thế thì cái sổ này phải đi ra khỏi cái phòng này, và phải vào cái đầu của cái làng.」
Cái ông ấy nhìn nàng, và ông ấy cười một cái nụ cười mỏng, và ông ấy nói:
「Cô nói cái câu ấy thì cô nói như cái người ở cái xã. Cô ă, tôi làm cái chuyện này hai mươi cái năm, và tôi thấy cái người ta thắng cái chuyện không phải ở cái chỗ có cái lý. Nó ở cái chỗ có cái lý và biết đưa cái lý ấy ra ở cái chỗ nào và cái lúc nào. Cô à, cái nhà của cô có cái giấy nữa không? Cái giấy của cái ông cụ, cái ông Lưu, hồi cái nhà dựng lại có cái chuyện cái giấy cái phân của hai cái con. Cái giấy ấy nếu còn thì mạnh hơn mọi cái thứ tôi nói.」
Nàng im một cái nhịp, vì cái câu ấy đánh vào một cái chỗ nàng chưa mở ra: cái hộp của cái mẹ.
Nàng nói:
「Dạ, em phải về xem cái hộp. Em nhớ hồi cái mẹ chồng em mất, em nghe anh ấy nói cái chuyện cái giấy, mà em chưa từng mở ra.」
Cái ông ấy nói:
「Về mà coi. Cái người cũ hay để cái giấy quan trọng ở dưới cái tầng dưới cùng, bọc bằng cái dầu, vì cái người cũ sợ cái mưa và cái mối hơn cái người ta bây giờ sợ cái mất. Và cô ă, cái giấy ấy mà có cái dấu tay của hai cái người làm chứng, mà hai cái người ấy còn sống thì cô kêu họ ra cái xã làm cái chứng, cái ấy thì là cái thứ không có cái ai nói cái ngược lại.」
Nàng ghi lại từng cái câu vào trong đầu, và là cái loại ghi không cần cái giấy, vì cái chuyện này là cái chuyện nàng đã tập từ cái hồi nàng làm cái sổ xanh.
Cái bản sao có dấu được đưa ra lúc tám giờ, và cái giấy còn ấm, vì cái máy photocopy nóng, và ở cái góc có cái dấu đỏ của cái xã, và cái dấu ấy tròn, và là cái dấu làm cái tờ giấy trọng lên gấp hai, và làm cái túi vải ở trong cái túi của nàng nặng lên gấp hai, dù cái cân không đổi.
Lưu Chính đứng ở ngoài, ở cái chỗ có cái ghế đá, và anh ta không đi vào, vì anh ta nói ở trong đó là cái chuyện của cái người có cái chữ, và anh ta là cái người không có cái chữ, và cái tự ái của anh ta là cái loại tự ái ngồi ở ngoài và chờ, và không hỏi bao giờ xong.
Rồi hai cái người đi về. Trên cái đường, anh ta hỏi:
「Cái ông ấy nói cái gì.」
Nàng kể, và khi nàng kể đến cái chỗ cái ông ấy hỏi cái giấy của cái ông Lưu, anh ta dừng lại, và anh ta đứng ở giữa cái đường, và anh ta nói:
「Cái giấy ấy tôi không biết có hay không. Tôi biết cái chuyện hồi dựng nhà lại cái bố tôi phân cái nhà cho tôi, vì tôi là cái đứa ở lại chăm cái bố cái mẹ. Cái thằng Dũng được cái nhà mới ở cái xóm trên và cái tiền dựng. Cái chuyện ấy cái làng biết. Mà cái giấy có hay không thì tôi không biết, vì cái hộp ấy tôi chưa mở lại từ cái hôm cái mẹ tôi mất.」
Nàng hỏi:
「Sao anh chưa mở lại.」
Anh ta im một lúc, và anh ta đi, và anh ta nói, và cái giọng ấy chậm:
「Vì ở trong cái hộp ấy có cái mùi của cái mẹ tôi. Cái người ta mở cái hộp là cái người ta mở cái chỗ có cái mùi của một cái người không còn, và cái mở làm cái người ta già đi một cái tuổi. Tôi sợ cái già ấy, cô ă. Tôi sợ hơn cái sợ cái mười hai triệu.」
Nàng không nói gì. Nàng chỉ đi cạnh anh ta, và cái đi cạnh ấy là cái câu trả lời có, và không cần cái nói.
Ở nhà, cái hộp được đặt ra ở giữa cái bàn. Cái hộp ấy bằng cái gỗ mỏng, và sơn cái màu đen phai, và cái quai bằng cái dây thép quấn cái vải, và có một cái ổ khóa nhỏ, và cái chìa treo ở trên cái vách, ở cái đinh gõ một cái góc cao, cái đinh gõ ở cái chỗ chỉ có cái người cao lấy được, và Lưu Chính là cái người cao.
Anh ta lấy cái chìa. Cái tay anh ta cầm cái chìa một lúc, và không đi vào cái ổ ngay, và đứng ở đấy chừng mười cái nhịp, và là mười cái nhịp anh ta không thở, và nàng đứng ở cạnh, và nàng không vội.
Rồi cái khóa mở. Cái tiếng của cái khóa tách, và cái tiếng ấy nhỏ, và làm cái phòng im hơn cái trước.
Ở trong cái hộp, là cái thế giới của một cái người sắp xếp kỹ: có cái áo gấp, có cái khăn xếp vuông, có cái trống của cái đồng hồ không chạy, có cái giấy báo của cái đám tang, và ở dưới cùng, đúng như cái lời của cái ông ở cái xã, có một cái gói bọc bằng cái giấy dầu, buộc bằng cái dây gai, và cái gói ấy phẳng, và cứng.
Lưu Chính đặt cái gói ra ở trên cái bàn, và anh ta không mở ngay, anh ta dùng cái móng tay tách cái dây, và cái tay anh ta làm chậm, và run một chút, và là cái run không phải cái sợ, là cái run của cái người sắp đọc cái chữ của cái bố, và cái chữ của cái bố là cái thứ nói từ cái dưới cái đất.
Cái gói mở ra. Nó có ba cái tờ. Tờ thứ nhất là cái giấy cái nhà mua cái tôn. Tờ thứ hai là cái giấy cái mượn cái tiền dựng cái nhà trả rồi, có cái ghi đỏ ở giữa: ĐÃ XONG. Còn tờ thứ ba, cái tờ nằm ở dưới cùng, là một cái tờ giấy vàng, viết bằng cái mực tím phai, và cái chữ là cái chữ to xiêu, cái chữ của một cái người học ít và viết bằng cái sức của nó, và ở dưới cái chữ có hai cái dấu tay đỏ, và một cái chữ ký nguệch ngoạc của cái ông Lưu.
Nàng đọc to, vì Lưu Chính đứng ở đấy không đọc nổi, và cái đọc to là cái cách nàng chia cho anh ta cái sức:
「Cái năm một chín chín tám, cái tháng Chín. Tôi là Lưu Văn, tôi nói cái chuyện cái nhà này. Cái nhà có ba cái gian và cái sân gạch nửa. Cái gian thuộc về Lưu Chính, vì Chính ở lại chăm tôi và cái mẹ, cày, bán cái gà trả cái thuốc, không đi một cái ngày. Cái thằng Dũng được cái nhà mới ở cái xóm trên, cái tiền dựng là cái tiền tôi cho nó, hai triệu tám, và là cái tiền tôi cho nó xong, không phải cái cho nó vay. Cái sân và cái giếng thuộc cái gian của Chính. Hai cái người làm chứng nhìn tôi viết và họ ký: cụ Tám Điền và cụ Năm Thóc. Cái nhà này theo cái gian, không theo cái người nói. Ai nói cái khác thì cái người ấy mang cái giấy này ra.」
Nàng đọc xong, và cái phòng im, và con Vàng nằm ở dưới cái bàn, và im cùng cái phòng.
Lưu Chính ngồi xuống, và anh ta ngồi chậm, như cái người mới leo cái dốc dài, và anh ta cầm cái tờ giấy, và anh ta cầm bằng hai cái tay, như cái người ta cầm một cái chén đầy đến cái mép, và anh ta nói, và cái giọng ấy không phải cái giọng nói với nàng, là cái giọng nói với cái tờ giấy:
「Bố ă. Con không biết bố viết cái này. Con ở đấy con làm, con không biết bố đang viết con ở đâu.」
Rồi anh ta không nói gì nữa, và ở cái mắt anh ta có cái nước không rơi, chỉ nằm ở đấy, và cái nằm ấy là cái nằm của cái nước không muốn làm cái phòng thấy.
Nàng đứng lên, và nàng đi ra cái bếp, và nàng đun cái nước, và cái đun ấy là cái cách nàng cho cái phòng một cái tiếng, vì ở những cái lúc như thế, cái im không phải cái thứ giúp.
Nước sôi, nàng rót hai cái chén chè, và nàng bưng ra, và anh ta đã lau cái mặt, và anh ta cầm cái chén, và anh ta nói:
「Cụ Tám Điền còn sống. Nó ở cái xóm dưới, chín mươi một. Cụ Năm Thóc mất từ hồi cái mưa lụt năm hai nghìn không.」
Nàng nói:
「Một cái người làm chứng còn thì đủ, vì cái ông ở cái xã nói một cái người ký trước cái mặt cái xã là cái đủ, mà hai cái dấu tay ở trên cái giấy thì làm cái giấy mạnh, không làm yếu. Cụ Tám chín mươi một, đi được không.」
Anh ta nói:
「Nó đi được. Nó đi bằng cái xe đẩy của cái cháu. Mà cái cụ ấy mạnh cái đầu hơn cái người sáu mươi. Nó nhớ tất cả.」
Buổi chiều, cái xe đẩy đưa cụ Tám ra cái xã. Cụ ấy mặc cái áo đen cũ, và cái mũ rách khâu ở cái mép, và cụ ngồi ở cái xe đẩy như cái cụ ngồi ở một cái ghế sang, vì cái đi ra cái xã là cái chuyện trọng với một cái người chín mươi.
Ở cái xã, cụ Tám ký cái tên, và cụ viết chậm, và cái chữ của cụ như cái chữ của cái người học viết hồi nhỏ và không quên bao giờ, và cụ nói, và cái giọng cụ đục:
「Tôi ký. Cái chuyện cái nhà này tôi nhớ hơn tôi nhớ cái tuổi của tôi. Hồi cái ông Lưu viết cái giấy, tôi đứng ở cái chỗ có cái cây xoan, và cái ông ấy viết bằng cái bút bi mượn của tôi, vì cái bút của nó hết cái mực. Cái thằng Dũng đứng ở cạnh, đỏ cái mặt, và không nói một cái câu, vì cái biết đúng.」
Cái ông ở cái xã lắng nghe, và ông ấy ghi tất cả, và ở cái cuối ông ấy đóng cái dấu đỏ lên cái giấy, và ông ấy nói:
「Cái giấy này ở lại đây một cái bản. Cái bản gốc mang về, và phải ở cái chỗ khô, và cô ă, cái lần sau có ai đến cái sân của cô nói cái chuyện cái nhà, thì cô không cần nói cái gì. Cô đưa cái giấy này. Cái giấy nói giỏi hơn cái miệng.」
Rồi cái ông ấy hỏi thêm một cái câu, và cái câu ấy làm nàng nhớ:
「Cái thằng Lưu Dũng biết cái chuyện này không.」
Nàng nói:
「Dạ, chưa biết.」
Cái ông ấy gật đầu, và ông ấy nói, và cái giọng ấy chậm:
「Vậy thì nói trước, cô ă. Cái giấy mạnh, mà cái mạnh hơn cái giấy là cái chuyện cái người ta biết trước ở trong cái nhà, không phải nghe từ cái người đòi nợ. Cái người nghe cái chuyện cái nhà từ cái người ngoài thì cái người ấy thành cái người lạ ở trong cái nhà.」
Nàng ghi cái câu ấy vào trong cái đầu, và là cái câu nặng, vì cái nói với Lưu Dũng không phải cái chuyện khó vì cái khó hiểu, khó vì cái khó nghe.
Cái chiều, trên cái đường về, cụ Tám ngồi ở cái xe đẩy, và cụ nói với Lưu Chính, và cái giọng cụ đục:
「Chính ă. Cái bố cô là cái người không biết viết đẹp, mà biết viết đúng. Cái bố cô để lại cho cô hai cái thứ: cái nhà và cái giấy. Cái nhà cho cô ở, cái giấy cho cô đừng sợ. Cô mang hai cái thứ ấy đi, thì cái người ta đến cái sân cô bao nhiêu cái lần cũng về tay không.」
Lưu Chính đẩy cái xe, và anh ta không nói, và ở cái gáy anh ta có cái gì nhấp nhô, và là cái nhấp nhô gồng lại, và là cái thứ làm nàng biết cái người ấy đang mang một cái thứ nặng hơn cái xe đẩy, và cái thứ ấy không cân được.
Ở cái đầu cái xóm, có một cái người chạy ra, và đó là cái con của bà bán cái nước, và nói:
「Anh Chính ơi. Cái thằng Dũng về rồi. Nó về lúc cái trưa, và ở trong nhà không ra, và đốt cái đèn từ cái trưa, và cái người ta ở cái xóm nói bị đánh, và kêu cả cái đêm không có ở đấy.」
Lưu Chính dừng cái xe đẩy. Cụ Tám ngẩng lên.
Nàng nhìn anh ta, và anh ta nhìn nàng, và là cái nhìn thống nhất một chuyện mà không ai nói ra: cái mai có hai cái chuyện, và bắt đầu từ cái nhà có cái đèn đốt từ cái trưa.
Mục lục — 80 chương
Chương 80: Người đàn ông vẫn dậy lúc bốn giờ
Chương 79: Trang cuối của cuốn sổ
Chương 78: Cái phong bì của bà Tư
Chương 77: Đám cưới lần thứ hai
Chương 76: Cái giường đôi
Chương 75: Ngôi nhà mới
Chương 74: Con đường bê tông
Chương 73: Một đêm ở sân đình
Chương 72: Cái loa phóng thanh
Chương 71: Cuộc họp ở nhà văn hóa
Chương 70: Đơn khiếu nại
Chương 69: Người anh em họ
Chương 68: Cái mốc đỏ
Chương 67: Giá đền bù
Chương 66: Ông tổ trưởng đến nhà
Chương 65: Cái sân gạch mới
Chương 64: Bức thư không gửi
Chương 63: Người không đến
Chương 62: Cái ghế trong lễ tốt nghiệp
Chương 61: Ngày nhận bằng
Chương 60: Cái vòng tay
Chương 59: Căn phòng trọ ở thành phố
Chương 58: Chuyến tàu đêm
Chương 57: Cái cổng khóa ngoài
Chương 56: Người về muộn
Chương 55: Tờ đơn ly hôn
Chương 54: Cái đèn dầu
Chương 53: Một câu hỏi
Chương 52: Cái hộp sắt dưới gầm giường
Chương 51: Chị hộ lý
Chương 50: Đêm thứ ba ở bệnh viện
Chương 49: Cái ghế ở hành lang
Chương 48: Cha tôi nằm viện
Chương 47: Tiền bán con bò
Chương 46: Cái búa của thợ mộc
Chương 45: Người làm chứng
Chương 44: Đồn công an huyện
Chương 43: Cái bàn tay bầm tím
Chương 42: Tờ giấy của ông Lưu
Chương 41: Người đến đòi nợ
Chương 40: Cái máy bơm
Chương 39: Nước ngập bờ
Chương 38: Lúa đổ
Chương 37: Cái cân ở chợ
Chương 36: Một trăm nghìn trong phong bì
Chương 35: Cái chăn bông cũ
Chương 34: Thư của cha
Chương 33: Người ta nhầm anh là bố em
Chương 32: Bát phở ở bến xe
Chương 31: Cái thẻ sinh viên
Chương 30: Người đàn ông đứng ở cổng trường
Chương 29: Cái điện thoại reo ba lần
Chương 28: Buổi tối ở ký túc xá
Chương 27: Học bổng
Chương 26: Người bạn cùng phòng
Chương 25: Cái áo sơ mi trắng
Chương 24: Anh chở em qua cầu
Chương 23: Đi chợ huyện
Chương 22: Cái tủ gỗ lim
Chương 21: Giấy mời họp họ
Chương 20: Con chó vàng
Chương 19: Cái quạt hỏng
Chương 18: Đêm mưa to
Chương 17: Người đàn bà ở đầu ngõ
Chương 16: Cái ấm nước trên bếp than
Chương 15: Đứa em chồng đến vay tiền
Chương 14: Vết sẹo ở chân trái
Chương 13: Cái giường kê thêm tấm ván
Chương 12: Bữa cơm có thịt
Chương 11: Cái sổ nợ của cô dâu
Chương 10: Người ta nói gì thì nói
Chương 9: Con dao phay và cái thớt
Chương 8: Món canh mặn
Chương 7: Chuyến xe buýt lúc năm giờ
Chương 6: Cái chạn bát của mẹ anh
Chương 5: Đêm anh không ngủ
Chương 4: Mùa gặt đầu tiên
Chương 3: Cái sân có ba con gà
Chương 2: Tờ giấy ở phòng đăng ký
Chương 1: Người đàn ông đến trả học phí