Chương 17: Người đàn bà ở đầu ngõ
Chương 17: Người đàn bà ở đầu ngõ
Người đàn bà ấy đứng ở đầu ngõ từ lúc bảy giờ sáng, và bà Hợi là người nói chuyện với bà ta trước.
Lâm Thanh Thanh đang phơi cái áo thì nàng nghe tiếng bà Hợi ở ngoài.
「...cái nhà ấy ở trong ấy, cái nhà có cái mái mới. Mà cô tìm ai?」
Nàng không nghe câu trả lời.
Rồi bà Hợi nói to hơn, cái giọng ấy cố ý cho cả xóm nghe: 「Ô, thế à? Thế thì cô vào đi. Mà cô là gì của nó?」
Nàng đứng ở sân, tay còn cầm cái áo ướt, và nàng nghe cái câu ấy, và nàng biết là cái câu ấy không phải hỏi để biết.
Rồi người đàn bà ấy đi vào ngõ.
Bà ta độ ba mươi lăm, mặc cái áo bông màu nâu, và bà ta đội cái nón, và bà ta mang một cái thúng, và trong cái thúng có cam.
Bà ta đi chậm, và bà ta nhìn cái nhà, và bà ta nhìn cái mái.
「Cô ạ,」 bà ta nói, khi đến cổng. 「Đây có phải nhà anh Chính không?」
「Phải,」 nàng nói. 「Chị tìm anh ấy?」
「Tôi tìm anh ấy.」
「Anh ấy đi cày. Trưa mới về.」
Bà ta đứng ở cổng, và bà ta không đi, và bà ta cũng không vào.
「Thế thì,」 bà ta nói, 「tôi để cái này lại.」
Bà ta đặt cái thúng xuống, và bà ta lấy ra một cái túi vải, và trong túi ấy có độ một chục quả cam.
「Cam nhà tôi,」 bà ta nói. 「Tôi mới hái. Mà tôi không bán, tôi chỉ mang cho.」
「Chị ạ,」 nàng nói. 「Chị là ai?」
Bà ta nhìn nàng.
Đó là cái nhìn mà nàng sẽ nhớ: nó không có gì dữ, và nó cũng không có gì thân.
「Tôi tên Hạnh,」 bà ta nói. 「Tôi ở cái xóm bên kia cái chợ. Mà trước kia tôi ở cái xóm này.」
「Dạ.」
「Tôi với anh Chính,」 bà ta nói, và bà ta dừng, và bà ta tìm chữ, 「ngày xưa có cái chuyện.」
Nàng đứng ở sân, và cái áo ướt trong tay nàng nặng xuống.
「Dạ,」 nàng nói. 「Chị vào nhà uống nước.」
「Thôi,」 bà ta nói. 「Tôi còn phải ra chợ.」
Bà ta quay đi, rồi bà ta dừng lại.
「Cô ạ,」 bà ta nói, và bà ta không quay đầu, 「cô là vợ anh ấy à?」
「Dạ phải.」
Bà ta gật đầu, và bà ta đi, và cái thúng không có trong tay bà ta nữa, nên cái dáng đi của bà ta nhẹ hơn.
Nàng đứng ở cổng rất lâu.
Rồi nàng nhìn cái túi cam.
Nàng mang nó vào nhà, và nàng đặt nó lên cái bàn, và nàng ngồi xuống, và nàng nhìn nó.
Cam này là cam sành, vỏ xanh, và nó có cái mùi rất mạnh.
Đến trưa thì bà Hợi sang.
Bà ta sang với cái cớ là mượn cái chày, và bà ta đứng ở cửa, và bà ta nhìn cái túi cam.
「Cô ạ,」 bà ta nói. 「Cô biết bà ấy là ai không?」
「Dạ biết. Bà ấy tên Hạnh.」
「Thế cô có biết cái chuyện ấy không?」
「Dạ không.」
Bà Hợi ngồi xuống cái ghế, và bà ta thở ra, và nàng biết là bà ta đã chờ cái câu ấy từ sáng.
「Ngày xưa,」 bà ta nói, 「hồi cái thằng Chính còn chưa đi bộ đội, thì nó với cái con Hạnh ấy đã đính ước rồi. Hai bên gia đình đã ăn hỏi. Có cả một đôi chiếu.」
「Dạ.」
「Rồi nó đi. Nó đi tám năm. Mà cái con Hạnh ấy thì nó đợi.」
Bà ta nói chữ 「đợi」 rất dài.
「Đợi bốn năm thì nhà nó gả cho một ông ở cái huyện dưới. Ông ấy làm nghề chở đò. Rồi ông ấy chết, năm ngoái, chết vì cái bệnh gì ở trong bụng. Thế là bà ấy về đây, ở cái nhà của mẹ bà ấy, mà mẹ bà ấy thì cũng mất rồi.」
Nàng ngồi im.
「Cô ạ,」 bà Hợi nói, và bà ta hạ giọng, 「cô đừng có để bụng. Mà cô cũng đừng có chủ quan. Đàn bà goá, mà lại là cái người đã đợi mình tám năm, thì cái chuyện nó không đơn giản đâu.」
「Dạ,」 nàng nói. 「Cháu cảm ơn bà đã nói.」
Bà Hợi cầm cái chày, và bà ta đi, và khi ra đến cổng thì bà ta nói vọng vào: 「Mà cô phải hỏi nó. Đàn ông thì nó không tự nói đâu.」
Nàng đứng ở cửa, và nàng nhìn cái sân.
Rồi nàng đi vào, và nàng lấy cái sổ ra, và nàng mở cái trang cuối, và nàng viết: 「Cam: 10 quả. Của bà Hạnh. Chưa biết trả thế nào.」
Trưa, Lưu Chính về.
Anh ta vào sân, và anh ta rửa chân ở cái giếng, và khi vào nhà thì anh ta thấy cái túi cam.
Anh ta đứng lại.
「Cái này đâu ra?」 anh ta hỏi.
「Có người mang cho,」 nàng nói. 「Một người tên Hạnh.」
Cái tay anh ta còn cầm cái khăn, và nó dừng lại ở giữa cái động tác lau.
「Hạnh nào?」
「Bà ấy bảo bà ấy ở cái xóm bên kia cái chợ. Mà trước kia ở cái xóm này.」
Anh ta đặt cái khăn xuống.
「Bà ấy nói gì?」
「Bà ấy bảo bà ấy với anh có cái chuyện. Rồi bà ấy để cam lại rồi đi.」
Anh ta ngồi xuống cái ghế, và anh ta nhìn cái túi cam rất lâu.
「Anh ạ,」 nàng nói. 「Anh có muốn kể cho tôi không?」
Anh ta không trả lời ngay.
Rồi anh ta nói: 「Có gì đâu mà kể.」
「Thế thì,」 nàng nói, và nàng ngồi xuống đối diện, 「bà Hợi kể cho tôi rồi. Tôi chỉ muốn nghe anh kể.」
Anh ta ngẩng lên.
「Bà ấy kể thế nào?」
「Bà ấy bảo hai người đã ăn hỏi. Rồi anh đi tám năm. Rồi bà ấy đợi bốn năm thì nhà gả cho một ông chở đò ở huyện dưới. Rồi ông ấy chết năm ngoái. Rồi bà ấy về đây.」
Anh ta gật đầu.
「Đúng,」 anh ta nói. 「Mà thiếu một cái.」
「Thiếu cái gì?」
「Cái ăn hỏi ấy,」 anh ta nói, 「là do hai bên gia đình. Tôi với bà ấy thì chưa nói với nhau câu nào.」
Nàng sững.
「Sao lại chưa nói câu nào?」
「Vì hồi ấy ở cái xóm này,」 anh ta nói, và anh ta nói chậm, 「người ta lấy nhau thì người ta không nói. Người ta nhìn. Tôi nhìn bà ấy ở cái giếng, bà ấy nhìn tôi ở cái sân đình. Thế là hai bên hiểu. Rồi bố tôi đi nói với bố bà ấy. Rồi có cái lễ ăn hỏi. Mà trong cái lễ ấy, tôi ngồi một bên, bà ấy ngồi một bên, và không ai nói gì với ai.」
Nàng ngồi im, và nàng thấy cái ấy lạ, và nàng thấy nó cũng không lạ.
「Thế rồi anh đi.」
「Tôi đi tháng chín. Lễ ăn hỏi tháng bảy.」
「Anh có viết thư cho bà ấy không?」
Anh ta im.
「Có,」 anh ta nói. 「Mười mấy cái.」
「Bà ấy có trả lời không?」
「Không.」
Nàng nhìn cái túi cam.
「Anh có hỏi vì sao không?」
「Không,」 anh ta nói. 「Hồi ấy tôi nghĩ: bà ấy không biết chữ. Mà cái ấy thì cũng phải. Ở cái xóm này, con gái thì ít người biết chữ.」
「Thế bà ấy có biết không?」
「Tôi không biết,」 anh ta nói. 「Tôi chưa hỏi.」
Anh ta đứng dậy, và anh ta đi ra sân, và anh ta nói, quay lưng lại: 「Mà cô đừng có nghĩ ngợi. Cái ấy là chuyện mười tám năm rồi.」
「Tôi không nghĩ ngợi,」 nàng nói. 「Mà tôi thấy lạ.」
「Lạ cái gì?」
「Lạ là,」 nàng nói, và nàng nói rất chậm, 「bà ấy đợi bốn năm. Mà bà ấy không trả lời một cái thư nào. Thế thì cái bốn năm ấy bà ấy đợi cái gì?」
Anh ta đứng ở cửa, và anh ta không trả lời.
Chiều ấy, nàng đi chợ.
Nàng đi chợ vì nàng có việc: nàng phải mua dầu hỏa, và nàng phải trả cái tiền giấy cho cái đơn của bố mẹ Thắng — ba nghìn một bộ.
Nhưng nàng biết là nàng đi chợ vì cái khác.
Cái chợ huyện chiều đông, và ở cái dãy bán hoa quả có bốn cái sạp, và ở cái sạp thứ ba có một người đàn bà mặc áo bông nâu.
Nàng đi đến.
Bà Hạnh ngẩng lên, và bà ta không có vẻ gì là ngạc nhiên.
「Cô,」 bà ta nói.
「Chị ạ,」 nàng nói. 「Tôi đến trả tiền cam.」
「Tôi đã bảo là tôi cho.」
「Tôi biết,」 nàng nói. 「Mà tôi không lấy không của ai.」
Bà Hạnh nhìn nàng, rồi bà ta cười — cái cười mệt.
「Cô ngồi đi,」 bà ta nói, và bà ta kéo cái ghế nhựa.
Nàng ngồi.
Cái sạp có cam, có bưởi, và ở dưới đất có một cái cân.
「Cô bán được không?」 nàng hỏi.
「Được. Mà lãi ít. Cam này tôi mua ở cái vườn trên Đồng Cao, một nghìn hai một cân, tôi bán một nghìn tám.」
「Thế thì lãi sáu trăm một cân.」
「Ừ. Mà trừ cái tiền thuê sạp, tiền xe, thì còn độ ba trăm.」
Nàng gật đầu, và nàng nhìn cái sạp.
「Chị ạ,」 nàng nói. 「Tôi hỏi chị một câu, chị không trả lời cũng được.」
Bà Hạnh nhìn nàng.
「Cô hỏi đi.」
「Chị có biết chữ không?」
Cái tay bà Hạnh đang xếp cam, và nó dừng lại.
Rất lâu.
Rồi bà ta nói: 「Không.」
Nàng ngồi im.
「Cô hỏi cái ấy,」 bà Hạnh nói, 「là vì cái gì?」
「Vì tôi biết anh ấy viết cho chị mười mấy cái thư.」
Bà Hạnh đặt quả cam xuống.
「Tôi không nhận được thư nào,」 bà ta nói.
「Sao lại không?」
「Vì tôi không biết chữ,」 bà ta nói, và bà ta nói rất bình thản. 「Thư gửi đến cái nhà tôi thì bố tôi nhận. Bố tôi đọc được. Mà bố tôi đọc xong thì ông ấy không đưa tôi. Ông ấy bảo: cái thư của thằng đi lính thì đọc làm gì, nó chết rồi.」
Nàng thấy cái gì đó lạnh ở trong ngực.
「Thế bố chị có nói cho chị biết là có thư không?」
「Không,」 bà ta nói. 「Mãi đến năm tôi ba mươi, bố tôi ốm nặng, ông ấy mới nói. Ông ấy bảo: ngày xưa có mấy cái thư, tao đốt rồi.」
Nàng ngồi im, và cái chợ chung quanh vẫn ồn, và người ta vẫn mặc cả, và ở cái sạp bên cạnh có người đang cân gạo.
「Chị có tin không?」 nàng hỏi.
「Tin cái gì?」
「Tin là ông ấy đốt.」
Bà Hạnh nhìn nàng, và bà ta cười, và cái cười ấy khác cái cười lúc trước.
「Cô bé ạ,」 bà ta nói. 「Tôi không tin. Mà tôi cũng không hỏi. Vì nếu tôi hỏi mà ông ấy nói ông ấy đốt thật, thì tôi mất cái ấy luôn. Còn nếu tôi không hỏi thì tôi còn cái để mà nghĩ.」
Nàng cúi xuống.
「Thế nên,」 bà Hạnh nói, và bà ta xếp cam tiếp, 「cô đừng có lo. Tôi đến cái nhà ấy không phải để đòi cái gì. Tôi đến để trả cái thúng. Mà cái thúng ấy là cái thúng tôi mượn của mẹ anh ấy từ năm bảy mươi tám.」
Nàng ngẩng lên.
「Cái thúng?」
「Cái thúng tre ấy,」 bà ta nói. 「Mẹ anh ấy cho tôi mượn để đựng cái lễ ăn hỏi. Rồi tôi quên trả. Mà mẹ anh ấy thì mất rồi, nên tôi trả cho cái nhà.」
Nàng ngồi đó, và nàng thấy cái câu ấy làm nàng nghẹn.
Mười tám năm, một cái thúng.
「Chị ạ,」 nàng nói, và nàng nói khó.
「Gì?」
「Tôi xin lỗi. Tôi đến đây tôi tưởng chị đến để...」
「Để làm gì?」 bà ta nói, và bà ta cười. 「Để giành lại một người đàn ông ba mươi tư tuổi, mà tôi thì goá, mà tôi không có con? Cô ạ, cái ấy ở cái xóm này người ta nói, chứ người ta không làm.」
Nàng cười, và cái cười ấy làm nàng thấy nhẹ, và nàng thấy mình hơi xấu hổ.
「Mà này,」 bà Hạnh nói, và bà ta nhìn nàng, 「cô có biết chữ à?」
「Dạ có.」
Bà ta im một lúc, rồi bà ta nói: 「Thế thì cô đọc cho tôi cái này.」
Bà ta cúi xuống, và bà ta lấy ở dưới cái sạp ra một cái hộp gỗ nhỏ, và bà ta mở, và ở trong có mấy tờ giấy đã ố.
「Cái này,」 bà ta nói, và bà ta đặt lên cái sạp, 「là cái thư. Tôi giữ. Không phải cái thư của anh ấy. Cái thư của cái ông chồng tôi. Ông ấy viết cho tôi hồi ông ấy đi chở đò ở trên sông, mà ông ấy nhờ người ta viết.」
Nàng cầm một tờ.
Chữ ấy đẹp, và nó là chữ của một người viết hộ — cái kiểu chữ của mấy ông đồ ở chợ.
「Em ạ, tháng này anh chở được mười hai chuyến...」
Nàng đọc, và bà Hạnh ngồi nghe, và bà ta nghe rất chăm, và cái mặt bà ta không có gì.
Nàng đọc hết một tờ, rồi bà ta nói: 「Thôi.」
「Chị không muốn nghe nữa à?」
「Không,」 bà ta nói. 「Tôi nghe một tờ là đủ. Mà tôi nghe để biết là cái giọng ấy nó thế nào. Vì mười năm tôi sống với ông ấy, ông ấy không nói với tôi câu nào như thế.」
Nàng đặt tờ giấy xuống.
「Cô ạ,」 bà Hạnh nói, và bà ta cất cái hộp đi, 「cô về đi. Mà cô nói với anh ấy một câu, nếu cô muốn: cái thúng ấy tôi trả rồi, mà cái thúng ấy còn tốt.」
Nàng đứng dậy, và nàng trả tiền cam — bà ta không lấy, và nàng để tiền ở trên cái sạp, và nàng đi.
Tối ấy, nàng về muộn.
Anh ta đang ngồi ở bậc cửa, và cái đèn đã thắp, và ở trên bếp cái ấm đã sôi.
「Cô đi đâu về muộn thế?」 anh ta hỏi.
「Tôi ra chợ.」
「Chợ thì bốn giờ là tan.」
Nàng ngồi xuống cạnh anh ta.
「Anh ạ,」 nàng nói. 「Tôi gặp chị Hạnh.」
Anh ta không nói gì.
「Chị ấy kể cho tôi nghe,」 nàng nói. 「Về mấy cái thư.」
Anh ta quay sang.
「Thư gì?」
「Cái thư anh viết cho chị ấy,」 nàng nói. 「Mười mấy cái. Chị ấy không nhận được. Bố chị ấy nhận, bố chị ấy đọc, rồi bố chị ấy không đưa. Mà chị ấy không biết chữ, nên chị ấy cũng không biết là có thư.」
Anh ta ngồi im rất lâu.
Rồi anh ta nói: 「Bố bà ấy đốt rồi à?」
「Chị ấy không biết. Ông ấy bảo ông ấy đốt. Mà chị ấy không tin, mà chị ấy cũng không hỏi.」
Anh ta cúi đầu, và hai tay anh ta đặt trên đầu gối.
「Mười tám năm,」 anh ta nói.
「Ừ.」
「Tôi tưởng bà ấy không thèm đọc.」
「Anh ạ,」 nàng nói. 「Anh tưởng thế thì anh giận. Mà anh giận mười tám năm, mà cái ấy không phải lỗi của ai cả.」
Anh ta ngẩng lên.
「Không phải lỗi của ai?」
「Không,」 nàng nói. 「Chị ấy không biết chữ. Bố chị ấy thương chị ấy theo cái kiểu của người ta hồi ấy: giấu cái gì đau. Mà anh thì ở ngoài ấy, anh viết, anh không biết là thư không đến. Không ai làm gì sai. Mà cũng không ai làm gì đúng.」
Anh ta ngồi đó, và nàng thấy cái cách anh ta thở — chậm, và sâu.
「Cô,」 anh ta nói.
「Gì?」
「Cái câu ấy,」 anh ta nói, 「cô nói ra thì nó dễ nghe. Mà tôi ngồi nghe thì nó không dễ.」
「Tôi biết,」 nàng nói. 「Mà tôi phải nói. Vì nếu tôi không nói thì anh sẽ giận chị ấy thêm mười tám năm nữa, mà cái giận ấy không nuôi được cái gì.」
Anh ta đứng dậy, và anh ta đi đến cái bếp, và anh ta nhấc cái ấm.
「Cô uống nước không?」
「Có.」
Anh ta rót hai chén, và anh ta đưa nàng một chén, và anh ta ngồi xuống.
「Cô ạ,」 anh ta nói. 「Tôi có một cái này.」
「Gì?」
「Mấy cái thư ấy,」 anh ta nói, 「tôi còn giữ cái bản nháp. Không phải bản nháp. Tôi viết ở cái sổ. Trước khi viết ra giấy thì tôi viết vào sổ, vì tôi sợ viết sai.」
Nàng nhìn anh ta.
「Anh còn cái sổ ấy?」
「Còn. Ở trong cái hộp gỗ, cái hộp dưới cái phản.」
「Anh cho tôi xem không?」
Anh ta im rất lâu.
「Để làm gì?」
「Để tôi biết,」 nàng nói. 「Anh hai mươi mấy tuổi thì anh viết cái gì.」
Anh ta đứng dậy, và anh ta đi lấy cái hộp.
Cái sổ ấy là sổ tay, bìa vải, và nó đã mốc, và ở trong có chữ.
Chữ ấy xấu, và nó nghiêng, và có nhiều chỗ gạch.
Nàng mở ở trang giữa, và nàng đọc to:
「Hạnh. Hôm nay ở cái trại này có mưa. Tôi nhớ cái sân đình, cái chỗ mình đứng hôm hội làng. Tôi không nhớ mặt em rõ lắm. Tôi chỉ nhớ cái áo em mặc hôm ấy, áo màu nâu, mà ở cổ có một cái khuyết.」
Nàng dừng.
Anh ta ngồi im, và anh ta nhìn cái bếp.
「Đọc tiếp đi,」 anh ta nói.
「Anh chắc không?」
「Đọc.」
Nàng đọc tiếp, và nàng đọc ba trang, và đến trang thứ tư thì cái giọng nàng nghẹn.
Anh ta vẫn ngồi im, và anh ta nghe, và cái mặt anh ta không có gì, và nàng biết cái mặt ấy là cái mặt anh ta dùng khi anh ta đang chịu một cái gì.
Đọc xong, nàng gấp sổ.
「Anh ạ,」 nàng nói.
「Gì?」
「Cái người viết cái này,」 nàng nói, 「không phải cái người tôi biết.」
Anh ta cười — cái cười mệt.
「Nó là tôi,」 anh ta nói. 「Mà nó không phải tôi. Hồi ấy tôi hai mươi hai tuổi. Tôi nghĩ cái gì cũng nói ra được.」
「Bây giờ anh không nghĩ thế à?」
「Bây giờ tôi nghĩ: nói ra thì người ta không nghe. Mà nghe rồi thì người ta vẫn làm cái họ phải làm.」
Nàng đặt cái sổ lên bàn.
「Anh ạ,」 nàng nói. 「Tôi muốn hỏi anh một câu, mà anh đừng giận.」
「Hỏi đi.」
「Nếu chị ấy bây giờ,」 nàng nói, và nàng nói chậm, 「mà chị ấy chưa lấy ai, mà chị ấy về đây, thì anh thế nào?」
Anh ta nhìn nàng, và cái nhìn ấy dài.
「Tôi không biết,」 anh ta nói. 「Mà tôi biết một cái: tôi không còn hai mươi hai tuổi.」
Nàng gật đầu.
「Đó là câu trả lời,」 nàng nói.
「Cô có thấy nó vô lý không?」
「Không,」 nàng nói. 「Tôi thấy nó thật.」
Tối ấy, nàng nằm trên cái phản, và nàng nghe cái ấm.
Nước đã cạn, nên cái ấm không kêu nữa, và cái im ấy làm nàng thấy trống.
「Anh ạ,」 nàng nói.
「Gì?」
「Cái sổ ấy, anh giữ đi.」
「Ừ.」
「Mà này,」 nàng nói, và nàng quay sang, 「cái thúng. Chị ấy bảo chị ấy trả cái thúng rồi. Cái thúng tre ấy. Chị ấy mượn của mẹ anh từ năm bảy mươi tám.」
Anh ta im rất lâu.
「Cái thúng ấy,」 anh ta nói, 「là cái thúng đựng trầu trong lễ ăn hỏi.」
「Ừ.」
「Mà bà ấy giữ mười tám năm.」
「Ừ.」
Anh ta thở ra, và cái thở ấy dài.
「Cô ạ,」 anh ta nói. 「Ngày mai cô ra chợ, cô mua cho tôi một cân cam.」
「Anh ăn cam à?」
「Tôi không ăn,」 anh ta nói. 「Mà tôi mua. Rồi cô đưa cho bà ấy một cái túi khác. Túi này là túi của nhà mình.」
Nàng nằm im, và nàng cười trong bóng tối.
「Được,」 nàng nói.
Ngoài sân, cái sương xuống, và nó bám vào cái mái mới, và ở trong nhà cái bếp còn đỏ, và cái ấm đã cạn vẫn đứng ở trên, và cái nắp to hơn miệng ấm vẫn đậy ở đấy, không khít, nhưng đậy.
Người đàn bà ấy đứng ở đầu ngõ từ lúc bảy giờ sáng, và bà Hợi là người nói chuyện với bà ta trước.
Lâm Thanh Thanh đang phơi cái áo thì nàng nghe tiếng bà Hợi ở ngoài.
「...cái nhà ấy ở trong ấy, cái nhà có cái mái mới. Mà cô tìm ai?」
Nàng không nghe câu trả lời.
Rồi bà Hợi nói to hơn, cái giọng ấy cố ý cho cả xóm nghe: 「Ô, thế à? Thế thì cô vào đi. Mà cô là gì của nó?」
Nàng đứng ở sân, tay còn cầm cái áo ướt, và nàng nghe cái câu ấy, và nàng biết là cái câu ấy không phải hỏi để biết.
Rồi người đàn bà ấy đi vào ngõ.
Bà ta độ ba mươi lăm, mặc cái áo bông màu nâu, và bà ta đội cái nón, và bà ta mang một cái thúng, và trong cái thúng có cam.
Bà ta đi chậm, và bà ta nhìn cái nhà, và bà ta nhìn cái mái.
「Cô ạ,」 bà ta nói, khi đến cổng. 「Đây có phải nhà anh Chính không?」
「Phải,」 nàng nói. 「Chị tìm anh ấy?」
「Tôi tìm anh ấy.」
「Anh ấy đi cày. Trưa mới về.」
Bà ta đứng ở cổng, và bà ta không đi, và bà ta cũng không vào.
「Thế thì,」 bà ta nói, 「tôi để cái này lại.」
Bà ta đặt cái thúng xuống, và bà ta lấy ra một cái túi vải, và trong túi ấy có độ một chục quả cam.
「Cam nhà tôi,」 bà ta nói. 「Tôi mới hái. Mà tôi không bán, tôi chỉ mang cho.」
「Chị ạ,」 nàng nói. 「Chị là ai?」
Bà ta nhìn nàng.
Đó là cái nhìn mà nàng sẽ nhớ: nó không có gì dữ, và nó cũng không có gì thân.
「Tôi tên Hạnh,」 bà ta nói. 「Tôi ở cái xóm bên kia cái chợ. Mà trước kia tôi ở cái xóm này.」
「Dạ.」
「Tôi với anh Chính,」 bà ta nói, và bà ta dừng, và bà ta tìm chữ, 「ngày xưa có cái chuyện.」
Nàng đứng ở sân, và cái áo ướt trong tay nàng nặng xuống.
「Dạ,」 nàng nói. 「Chị vào nhà uống nước.」
「Thôi,」 bà ta nói. 「Tôi còn phải ra chợ.」
Bà ta quay đi, rồi bà ta dừng lại.
「Cô ạ,」 bà ta nói, và bà ta không quay đầu, 「cô là vợ anh ấy à?」
「Dạ phải.」
Bà ta gật đầu, và bà ta đi, và cái thúng không có trong tay bà ta nữa, nên cái dáng đi của bà ta nhẹ hơn.
Nàng đứng ở cổng rất lâu.
Rồi nàng nhìn cái túi cam.
Nàng mang nó vào nhà, và nàng đặt nó lên cái bàn, và nàng ngồi xuống, và nàng nhìn nó.
Cam này là cam sành, vỏ xanh, và nó có cái mùi rất mạnh.
Đến trưa thì bà Hợi sang.
Bà ta sang với cái cớ là mượn cái chày, và bà ta đứng ở cửa, và bà ta nhìn cái túi cam.
「Cô ạ,」 bà ta nói. 「Cô biết bà ấy là ai không?」
「Dạ biết. Bà ấy tên Hạnh.」
「Thế cô có biết cái chuyện ấy không?」
「Dạ không.」
Bà Hợi ngồi xuống cái ghế, và bà ta thở ra, và nàng biết là bà ta đã chờ cái câu ấy từ sáng.
「Ngày xưa,」 bà ta nói, 「hồi cái thằng Chính còn chưa đi bộ đội, thì nó với cái con Hạnh ấy đã đính ước rồi. Hai bên gia đình đã ăn hỏi. Có cả một đôi chiếu.」
「Dạ.」
「Rồi nó đi. Nó đi tám năm. Mà cái con Hạnh ấy thì nó đợi.」
Bà ta nói chữ 「đợi」 rất dài.
「Đợi bốn năm thì nhà nó gả cho một ông ở cái huyện dưới. Ông ấy làm nghề chở đò. Rồi ông ấy chết, năm ngoái, chết vì cái bệnh gì ở trong bụng. Thế là bà ấy về đây, ở cái nhà của mẹ bà ấy, mà mẹ bà ấy thì cũng mất rồi.」
Nàng ngồi im.
「Cô ạ,」 bà Hợi nói, và bà ta hạ giọng, 「cô đừng có để bụng. Mà cô cũng đừng có chủ quan. Đàn bà goá, mà lại là cái người đã đợi mình tám năm, thì cái chuyện nó không đơn giản đâu.」
「Dạ,」 nàng nói. 「Cháu cảm ơn bà đã nói.」
Bà Hợi cầm cái chày, và bà ta đi, và khi ra đến cổng thì bà ta nói vọng vào: 「Mà cô phải hỏi nó. Đàn ông thì nó không tự nói đâu.」
Nàng đứng ở cửa, và nàng nhìn cái sân.
Rồi nàng đi vào, và nàng lấy cái sổ ra, và nàng mở cái trang cuối, và nàng viết: 「Cam: 10 quả. Của bà Hạnh. Chưa biết trả thế nào.」
Trưa, Lưu Chính về.
Anh ta vào sân, và anh ta rửa chân ở cái giếng, và khi vào nhà thì anh ta thấy cái túi cam.
Anh ta đứng lại.
「Cái này đâu ra?」 anh ta hỏi.
「Có người mang cho,」 nàng nói. 「Một người tên Hạnh.」
Cái tay anh ta còn cầm cái khăn, và nó dừng lại ở giữa cái động tác lau.
「Hạnh nào?」
「Bà ấy bảo bà ấy ở cái xóm bên kia cái chợ. Mà trước kia ở cái xóm này.」
Anh ta đặt cái khăn xuống.
「Bà ấy nói gì?」
「Bà ấy bảo bà ấy với anh có cái chuyện. Rồi bà ấy để cam lại rồi đi.」
Anh ta ngồi xuống cái ghế, và anh ta nhìn cái túi cam rất lâu.
「Anh ạ,」 nàng nói. 「Anh có muốn kể cho tôi không?」
Anh ta không trả lời ngay.
Rồi anh ta nói: 「Có gì đâu mà kể.」
「Thế thì,」 nàng nói, và nàng ngồi xuống đối diện, 「bà Hợi kể cho tôi rồi. Tôi chỉ muốn nghe anh kể.」
Anh ta ngẩng lên.
「Bà ấy kể thế nào?」
「Bà ấy bảo hai người đã ăn hỏi. Rồi anh đi tám năm. Rồi bà ấy đợi bốn năm thì nhà gả cho một ông chở đò ở huyện dưới. Rồi ông ấy chết năm ngoái. Rồi bà ấy về đây.」
Anh ta gật đầu.
「Đúng,」 anh ta nói. 「Mà thiếu một cái.」
「Thiếu cái gì?」
「Cái ăn hỏi ấy,」 anh ta nói, 「là do hai bên gia đình. Tôi với bà ấy thì chưa nói với nhau câu nào.」
Nàng sững.
「Sao lại chưa nói câu nào?」
「Vì hồi ấy ở cái xóm này,」 anh ta nói, và anh ta nói chậm, 「người ta lấy nhau thì người ta không nói. Người ta nhìn. Tôi nhìn bà ấy ở cái giếng, bà ấy nhìn tôi ở cái sân đình. Thế là hai bên hiểu. Rồi bố tôi đi nói với bố bà ấy. Rồi có cái lễ ăn hỏi. Mà trong cái lễ ấy, tôi ngồi một bên, bà ấy ngồi một bên, và không ai nói gì với ai.」
Nàng ngồi im, và nàng thấy cái ấy lạ, và nàng thấy nó cũng không lạ.
「Thế rồi anh đi.」
「Tôi đi tháng chín. Lễ ăn hỏi tháng bảy.」
「Anh có viết thư cho bà ấy không?」
Anh ta im.
「Có,」 anh ta nói. 「Mười mấy cái.」
「Bà ấy có trả lời không?」
「Không.」
Nàng nhìn cái túi cam.
「Anh có hỏi vì sao không?」
「Không,」 anh ta nói. 「Hồi ấy tôi nghĩ: bà ấy không biết chữ. Mà cái ấy thì cũng phải. Ở cái xóm này, con gái thì ít người biết chữ.」
「Thế bà ấy có biết không?」
「Tôi không biết,」 anh ta nói. 「Tôi chưa hỏi.」
Anh ta đứng dậy, và anh ta đi ra sân, và anh ta nói, quay lưng lại: 「Mà cô đừng có nghĩ ngợi. Cái ấy là chuyện mười tám năm rồi.」
「Tôi không nghĩ ngợi,」 nàng nói. 「Mà tôi thấy lạ.」
「Lạ cái gì?」
「Lạ là,」 nàng nói, và nàng nói rất chậm, 「bà ấy đợi bốn năm. Mà bà ấy không trả lời một cái thư nào. Thế thì cái bốn năm ấy bà ấy đợi cái gì?」
Anh ta đứng ở cửa, và anh ta không trả lời.
Chiều ấy, nàng đi chợ.
Nàng đi chợ vì nàng có việc: nàng phải mua dầu hỏa, và nàng phải trả cái tiền giấy cho cái đơn của bố mẹ Thắng — ba nghìn một bộ.
Nhưng nàng biết là nàng đi chợ vì cái khác.
Cái chợ huyện chiều đông, và ở cái dãy bán hoa quả có bốn cái sạp, và ở cái sạp thứ ba có một người đàn bà mặc áo bông nâu.
Nàng đi đến.
Bà Hạnh ngẩng lên, và bà ta không có vẻ gì là ngạc nhiên.
「Cô,」 bà ta nói.
「Chị ạ,」 nàng nói. 「Tôi đến trả tiền cam.」
「Tôi đã bảo là tôi cho.」
「Tôi biết,」 nàng nói. 「Mà tôi không lấy không của ai.」
Bà Hạnh nhìn nàng, rồi bà ta cười — cái cười mệt.
「Cô ngồi đi,」 bà ta nói, và bà ta kéo cái ghế nhựa.
Nàng ngồi.
Cái sạp có cam, có bưởi, và ở dưới đất có một cái cân.
「Cô bán được không?」 nàng hỏi.
「Được. Mà lãi ít. Cam này tôi mua ở cái vườn trên Đồng Cao, một nghìn hai một cân, tôi bán một nghìn tám.」
「Thế thì lãi sáu trăm một cân.」
「Ừ. Mà trừ cái tiền thuê sạp, tiền xe, thì còn độ ba trăm.」
Nàng gật đầu, và nàng nhìn cái sạp.
「Chị ạ,」 nàng nói. 「Tôi hỏi chị một câu, chị không trả lời cũng được.」
Bà Hạnh nhìn nàng.
「Cô hỏi đi.」
「Chị có biết chữ không?」
Cái tay bà Hạnh đang xếp cam, và nó dừng lại.
Rất lâu.
Rồi bà ta nói: 「Không.」
Nàng ngồi im.
「Cô hỏi cái ấy,」 bà Hạnh nói, 「là vì cái gì?」
「Vì tôi biết anh ấy viết cho chị mười mấy cái thư.」
Bà Hạnh đặt quả cam xuống.
「Tôi không nhận được thư nào,」 bà ta nói.
「Sao lại không?」
「Vì tôi không biết chữ,」 bà ta nói, và bà ta nói rất bình thản. 「Thư gửi đến cái nhà tôi thì bố tôi nhận. Bố tôi đọc được. Mà bố tôi đọc xong thì ông ấy không đưa tôi. Ông ấy bảo: cái thư của thằng đi lính thì đọc làm gì, nó chết rồi.」
Nàng thấy cái gì đó lạnh ở trong ngực.
「Thế bố chị có nói cho chị biết là có thư không?」
「Không,」 bà ta nói. 「Mãi đến năm tôi ba mươi, bố tôi ốm nặng, ông ấy mới nói. Ông ấy bảo: ngày xưa có mấy cái thư, tao đốt rồi.」
Nàng ngồi im, và cái chợ chung quanh vẫn ồn, và người ta vẫn mặc cả, và ở cái sạp bên cạnh có người đang cân gạo.
「Chị có tin không?」 nàng hỏi.
「Tin cái gì?」
「Tin là ông ấy đốt.」
Bà Hạnh nhìn nàng, và bà ta cười, và cái cười ấy khác cái cười lúc trước.
「Cô bé ạ,」 bà ta nói. 「Tôi không tin. Mà tôi cũng không hỏi. Vì nếu tôi hỏi mà ông ấy nói ông ấy đốt thật, thì tôi mất cái ấy luôn. Còn nếu tôi không hỏi thì tôi còn cái để mà nghĩ.」
Nàng cúi xuống.
「Thế nên,」 bà Hạnh nói, và bà ta xếp cam tiếp, 「cô đừng có lo. Tôi đến cái nhà ấy không phải để đòi cái gì. Tôi đến để trả cái thúng. Mà cái thúng ấy là cái thúng tôi mượn của mẹ anh ấy từ năm bảy mươi tám.」
Nàng ngẩng lên.
「Cái thúng?」
「Cái thúng tre ấy,」 bà ta nói. 「Mẹ anh ấy cho tôi mượn để đựng cái lễ ăn hỏi. Rồi tôi quên trả. Mà mẹ anh ấy thì mất rồi, nên tôi trả cho cái nhà.」
Nàng ngồi đó, và nàng thấy cái câu ấy làm nàng nghẹn.
Mười tám năm, một cái thúng.
「Chị ạ,」 nàng nói, và nàng nói khó.
「Gì?」
「Tôi xin lỗi. Tôi đến đây tôi tưởng chị đến để...」
「Để làm gì?」 bà ta nói, và bà ta cười. 「Để giành lại một người đàn ông ba mươi tư tuổi, mà tôi thì goá, mà tôi không có con? Cô ạ, cái ấy ở cái xóm này người ta nói, chứ người ta không làm.」
Nàng cười, và cái cười ấy làm nàng thấy nhẹ, và nàng thấy mình hơi xấu hổ.
「Mà này,」 bà Hạnh nói, và bà ta nhìn nàng, 「cô có biết chữ à?」
「Dạ có.」
Bà ta im một lúc, rồi bà ta nói: 「Thế thì cô đọc cho tôi cái này.」
Bà ta cúi xuống, và bà ta lấy ở dưới cái sạp ra một cái hộp gỗ nhỏ, và bà ta mở, và ở trong có mấy tờ giấy đã ố.
「Cái này,」 bà ta nói, và bà ta đặt lên cái sạp, 「là cái thư. Tôi giữ. Không phải cái thư của anh ấy. Cái thư của cái ông chồng tôi. Ông ấy viết cho tôi hồi ông ấy đi chở đò ở trên sông, mà ông ấy nhờ người ta viết.」
Nàng cầm một tờ.
Chữ ấy đẹp, và nó là chữ của một người viết hộ — cái kiểu chữ của mấy ông đồ ở chợ.
「Em ạ, tháng này anh chở được mười hai chuyến...」
Nàng đọc, và bà Hạnh ngồi nghe, và bà ta nghe rất chăm, và cái mặt bà ta không có gì.
Nàng đọc hết một tờ, rồi bà ta nói: 「Thôi.」
「Chị không muốn nghe nữa à?」
「Không,」 bà ta nói. 「Tôi nghe một tờ là đủ. Mà tôi nghe để biết là cái giọng ấy nó thế nào. Vì mười năm tôi sống với ông ấy, ông ấy không nói với tôi câu nào như thế.」
Nàng đặt tờ giấy xuống.
「Cô ạ,」 bà Hạnh nói, và bà ta cất cái hộp đi, 「cô về đi. Mà cô nói với anh ấy một câu, nếu cô muốn: cái thúng ấy tôi trả rồi, mà cái thúng ấy còn tốt.」
Nàng đứng dậy, và nàng trả tiền cam — bà ta không lấy, và nàng để tiền ở trên cái sạp, và nàng đi.
Tối ấy, nàng về muộn.
Anh ta đang ngồi ở bậc cửa, và cái đèn đã thắp, và ở trên bếp cái ấm đã sôi.
「Cô đi đâu về muộn thế?」 anh ta hỏi.
「Tôi ra chợ.」
「Chợ thì bốn giờ là tan.」
Nàng ngồi xuống cạnh anh ta.
「Anh ạ,」 nàng nói. 「Tôi gặp chị Hạnh.」
Anh ta không nói gì.
「Chị ấy kể cho tôi nghe,」 nàng nói. 「Về mấy cái thư.」
Anh ta quay sang.
「Thư gì?」
「Cái thư anh viết cho chị ấy,」 nàng nói. 「Mười mấy cái. Chị ấy không nhận được. Bố chị ấy nhận, bố chị ấy đọc, rồi bố chị ấy không đưa. Mà chị ấy không biết chữ, nên chị ấy cũng không biết là có thư.」
Anh ta ngồi im rất lâu.
Rồi anh ta nói: 「Bố bà ấy đốt rồi à?」
「Chị ấy không biết. Ông ấy bảo ông ấy đốt. Mà chị ấy không tin, mà chị ấy cũng không hỏi.」
Anh ta cúi đầu, và hai tay anh ta đặt trên đầu gối.
「Mười tám năm,」 anh ta nói.
「Ừ.」
「Tôi tưởng bà ấy không thèm đọc.」
「Anh ạ,」 nàng nói. 「Anh tưởng thế thì anh giận. Mà anh giận mười tám năm, mà cái ấy không phải lỗi của ai cả.」
Anh ta ngẩng lên.
「Không phải lỗi của ai?」
「Không,」 nàng nói. 「Chị ấy không biết chữ. Bố chị ấy thương chị ấy theo cái kiểu của người ta hồi ấy: giấu cái gì đau. Mà anh thì ở ngoài ấy, anh viết, anh không biết là thư không đến. Không ai làm gì sai. Mà cũng không ai làm gì đúng.」
Anh ta ngồi đó, và nàng thấy cái cách anh ta thở — chậm, và sâu.
「Cô,」 anh ta nói.
「Gì?」
「Cái câu ấy,」 anh ta nói, 「cô nói ra thì nó dễ nghe. Mà tôi ngồi nghe thì nó không dễ.」
「Tôi biết,」 nàng nói. 「Mà tôi phải nói. Vì nếu tôi không nói thì anh sẽ giận chị ấy thêm mười tám năm nữa, mà cái giận ấy không nuôi được cái gì.」
Anh ta đứng dậy, và anh ta đi đến cái bếp, và anh ta nhấc cái ấm.
「Cô uống nước không?」
「Có.」
Anh ta rót hai chén, và anh ta đưa nàng một chén, và anh ta ngồi xuống.
「Cô ạ,」 anh ta nói. 「Tôi có một cái này.」
「Gì?」
「Mấy cái thư ấy,」 anh ta nói, 「tôi còn giữ cái bản nháp. Không phải bản nháp. Tôi viết ở cái sổ. Trước khi viết ra giấy thì tôi viết vào sổ, vì tôi sợ viết sai.」
Nàng nhìn anh ta.
「Anh còn cái sổ ấy?」
「Còn. Ở trong cái hộp gỗ, cái hộp dưới cái phản.」
「Anh cho tôi xem không?」
Anh ta im rất lâu.
「Để làm gì?」
「Để tôi biết,」 nàng nói. 「Anh hai mươi mấy tuổi thì anh viết cái gì.」
Anh ta đứng dậy, và anh ta đi lấy cái hộp.
Cái sổ ấy là sổ tay, bìa vải, và nó đã mốc, và ở trong có chữ.
Chữ ấy xấu, và nó nghiêng, và có nhiều chỗ gạch.
Nàng mở ở trang giữa, và nàng đọc to:
「Hạnh. Hôm nay ở cái trại này có mưa. Tôi nhớ cái sân đình, cái chỗ mình đứng hôm hội làng. Tôi không nhớ mặt em rõ lắm. Tôi chỉ nhớ cái áo em mặc hôm ấy, áo màu nâu, mà ở cổ có một cái khuyết.」
Nàng dừng.
Anh ta ngồi im, và anh ta nhìn cái bếp.
「Đọc tiếp đi,」 anh ta nói.
「Anh chắc không?」
「Đọc.」
Nàng đọc tiếp, và nàng đọc ba trang, và đến trang thứ tư thì cái giọng nàng nghẹn.
Anh ta vẫn ngồi im, và anh ta nghe, và cái mặt anh ta không có gì, và nàng biết cái mặt ấy là cái mặt anh ta dùng khi anh ta đang chịu một cái gì.
Đọc xong, nàng gấp sổ.
「Anh ạ,」 nàng nói.
「Gì?」
「Cái người viết cái này,」 nàng nói, 「không phải cái người tôi biết.」
Anh ta cười — cái cười mệt.
「Nó là tôi,」 anh ta nói. 「Mà nó không phải tôi. Hồi ấy tôi hai mươi hai tuổi. Tôi nghĩ cái gì cũng nói ra được.」
「Bây giờ anh không nghĩ thế à?」
「Bây giờ tôi nghĩ: nói ra thì người ta không nghe. Mà nghe rồi thì người ta vẫn làm cái họ phải làm.」
Nàng đặt cái sổ lên bàn.
「Anh ạ,」 nàng nói. 「Tôi muốn hỏi anh một câu, mà anh đừng giận.」
「Hỏi đi.」
「Nếu chị ấy bây giờ,」 nàng nói, và nàng nói chậm, 「mà chị ấy chưa lấy ai, mà chị ấy về đây, thì anh thế nào?」
Anh ta nhìn nàng, và cái nhìn ấy dài.
「Tôi không biết,」 anh ta nói. 「Mà tôi biết một cái: tôi không còn hai mươi hai tuổi.」
Nàng gật đầu.
「Đó là câu trả lời,」 nàng nói.
「Cô có thấy nó vô lý không?」
「Không,」 nàng nói. 「Tôi thấy nó thật.」
Tối ấy, nàng nằm trên cái phản, và nàng nghe cái ấm.
Nước đã cạn, nên cái ấm không kêu nữa, và cái im ấy làm nàng thấy trống.
「Anh ạ,」 nàng nói.
「Gì?」
「Cái sổ ấy, anh giữ đi.」
「Ừ.」
「Mà này,」 nàng nói, và nàng quay sang, 「cái thúng. Chị ấy bảo chị ấy trả cái thúng rồi. Cái thúng tre ấy. Chị ấy mượn của mẹ anh từ năm bảy mươi tám.」
Anh ta im rất lâu.
「Cái thúng ấy,」 anh ta nói, 「là cái thúng đựng trầu trong lễ ăn hỏi.」
「Ừ.」
「Mà bà ấy giữ mười tám năm.」
「Ừ.」
Anh ta thở ra, và cái thở ấy dài.
「Cô ạ,」 anh ta nói. 「Ngày mai cô ra chợ, cô mua cho tôi một cân cam.」
「Anh ăn cam à?」
「Tôi không ăn,」 anh ta nói. 「Mà tôi mua. Rồi cô đưa cho bà ấy một cái túi khác. Túi này là túi của nhà mình.」
Nàng nằm im, và nàng cười trong bóng tối.
「Được,」 nàng nói.
Ngoài sân, cái sương xuống, và nó bám vào cái mái mới, và ở trong nhà cái bếp còn đỏ, và cái ấm đã cạn vẫn đứng ở trên, và cái nắp to hơn miệng ấm vẫn đậy ở đấy, không khít, nhưng đậy.
Mục lục — 49 chương
Chương 49: Cái ghế ở hành lang
Chương 48: Cha tôi nằm viện
Chương 47: Tiền bán con bò
Chương 46: Cái búa của thợ mộc
Chương 45: Người làm chứng
Chương 44: Đồn công an huyện
Chương 43: Cái bàn tay bầm tím
Chương 42: Tờ giấy của ông Lưu
Chương 41: Người đến đòi nợ
Chương 40: Cái máy bơm
Chương 39: Nước ngập bờ
Chương 38: Lúa đổ
Chương 37: Cái cân ở chợ
Chương 36: Một trăm nghìn trong phong bì
Chương 35: Cái chăn bông cũ
Chương 34: Thư của cha
Chương 33: Người ta nhầm anh là bố em
Chương 32: Bát phở ở bến xe
Chương 31: Cái thẻ sinh viên
Chương 30: Người đàn ông đứng ở cổng trường
Chương 29: Cái điện thoại reo ba lần
Chương 28: Buổi tối ở ký túc xá
Chương 27: Học bổng
Chương 26: Người bạn cùng phòng
Chương 25: Cái áo sơ mi trắng
Chương 24: Anh chở em qua cầu
Chương 23: Đi chợ huyện
Chương 22: Cái tủ gỗ lim
Chương 21: Giấy mời họp họ
Chương 20: Con chó vàng
Chương 19: Cái quạt hỏng
Chương 18: Đêm mưa to
Chương 17: Người đàn bà ở đầu ngõ
Chương 16: Cái ấm nước trên bếp than
Chương 15: Đứa em chồng đến vay tiền
Chương 14: Vết sẹo ở chân trái
Chương 13: Cái giường kê thêm tấm ván
Chương 12: Bữa cơm có thịt
Chương 11: Cái sổ nợ của cô dâu
Chương 10: Người ta nói gì thì nói
Chương 9: Con dao phay và cái thớt
Chương 8: Món canh mặn
Chương 7: Chuyến xe buýt lúc năm giờ
Chương 6: Cái chạn bát của mẹ anh
Chương 5: Đêm anh không ngủ
Chương 4: Mùa gặt đầu tiên
Chương 3: Cái sân có ba con gà
Chương 2: Tờ giấy ở phòng đăng ký
Chương 1: Người đàn ông đến trả học phí